16:02 EDT Thứ năm, 19/10/2017

KINH TẠ ƠN KIM KHÁNH THÀNH LẬP GIÁO PHẬN BANMÊTHUỘT

Chuyên mục

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 44


Hôm nayHôm nay : 5232

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 138503

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 8393402


Trang nhất » Chuyên Đề » Quà tặng cuộc sống

Năm Ngựa nói chuyện ngựa

Thứ ba - 28/01/2014 23:36
-->

NĂM NGỰA NÓI CHUYỆN NGỰA

ngua3Lại gần tới Tết Nguyên Đán năm Con Ngựa (Giáp Ngọ). Năm Ngựa nói chuyện ngựa là phù hợp, nhưng chuyện ngựa thì nhiều lắm, nhiều không kể xiết: Ngựa Đông phương, ngựa Tây phương; ngựa trong văn chương, điển tích; trong ca dao, tục ngữ; trong dân gian, chính quyền kim cổ; ngựa thành công (mã đáo thành công), ngựa thất bại (“Mã đề dương cước anh hùng tận… Ngựa lồng quỷ mới nhăn răng, Cha con dòng họ thầy tăng hết thời – “Sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm”). Đến như tôn giáo (Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Ân Độ giáo…) cũng có rất nhiều giai thoại, truyền thuyết về ngựa. Nhà văn Nguyễn Công Hoan (VN) cũng có 2 tác phẩm mang tên ngựa (1- “Con ngựa già” – ngụ ý con người cũng như con ngựa, lúc còn trẻ khỏe, sung sức, thì còn được ưa chuộng, đến khi già yếu thì bị phế bỏ ; 2-  “Ngựa người và người ngựa” –  nói về kiếp người sống bằng nghề kéo xe đưa khách chẳng khác gì con ngựa). Vì “Truyện dài về ngựa” không có hồi kết, nên chỉ xin nói đến 2 vấn đề: 1- NGỰA ĐÁ; 2- NGÃ NGỰA. Nhưng trước hết, xin để ngựa tự giới thiệu về mình:

NGỰA KỂ CÔNG

Ngựa nghe nói, tím gan, nổi phổi,
Liền chạy ra hầm hí vang tai:
“Ớ! này, này, tao bảo chúng bay,
Đố mặt ai dày bằng mặt ngựa ?
Tuy rằng thú, cũng hai giống thú,
Thú như tao ai dám phen lê (1)
Tao đã từng đi quán, về quê,
Đã ghe trận đánh nam, dẹp bắc.
Mỏi gối nưng phò xã tắc,
Mòn lưng cúi đội vương công.
Ngày ngày chầu chực sân rồng
Bữa bữa dựa kề loan giá,
Ông Cao tổ (2) năm năm thượng mã,
Mới dựng nên cơ nghiệp Lưu gia,
Ông Quan Công (3) sáu ải thoát qua,
Vì cậy có Thanh long, Xích thố (4)
Đã nhiều thủa ngăn thành, thủ phủ
Lại ghe phen (5) đột pháo, xông tên
Đàng xa xôi ngàn dặm quan sơn
Ngựa phi đệ (6) một giờ liền thấu.
Các chú đặng ăn no, nằm ngủ,
Bởi vì ta cần cán (7), giữ gìn.
Khắn khắn lo nhà trị, nước yên,
Chốn chốn đặng nông bô lạc nghiệp. (8)
Các chú những nằm trong xó bếp,
Tài các ngươi ở chốn quê mùa.
Đừng đừng buông lời nói khật khù (9)
Bớt bớt thói chê bai giớn giác,
Nếu tao chẳng lo trong việc nước,
Giặc đến nhà ai để chúng bay?
Thật biết một mà chẳng biết hai,
Chớ lừng lẫy cậy tài, cậy thế”.

Ngựa nói lâu, gẫm càng hữu lý,
Vậy chủ bèn phân giải một lời:
“Đại tiểu các hữu kỳ tài,
Vô đắc tương tranh nhĩ ngã” (10).

(Trích “LỤC SÚC TRANH CÔNG” – Khuyết Danh)

———————————-

Chú thích: (1) Phen lê: Phân bì, so sánh, ganh tị. (2) Cao tổ: Vua Cao tổ nhà Hán (Lưu Bang). (3) Quan Công (tức Quan Vân Trường) vị tướng tài có bộ mặt đỏ như lửa, đã “kết nghĩa Vườn Đào” với Lưu Bang (Hán Cao tổ) và Trương Phi (mặt đen thui) (x. Tam Quốc Chí). (4) Quan Công chuyên cưỡi ngựa Xích thố (lông màu đỏ rực) tay cầm Thanh long đao (thanh gươm hình con rồng màu xanh). (5) Ghe phen: nhiều lần. (6) Phi đệ: Chạy nhanh như tên bay. (7) Cần cán (cần mẫn, cốt cán): chăm chỉ và làm việc giỏi. (8) Nông bô lạc nghiệp: Dân cày cấy yên vui nghề nghiệp. (9) Khật khù: Gàn dở. (10) “Ðại tiểu các hữu kỳ tài – Vô đắc tương tranh nhĩ ngã”: Vật lớn vật nhỏ đều có một nghề tài giỏi riêng, không được ganh tị nhau.

NGỰA ĐÁ

ngua5Thấy ngựa thì ai cũng ham được cưỡi. Muốn cưỡi ngựa cũng phải học. Nếu không học cách cưỡi ngựa an toàn, mà cứ túm đuôi ngựa rồi leo lên theo khuỷu hai chân sau (khớp giữa xương đùi và xương cẳng chân) của ngựa, chắc chắn sẽ bị ngựa đá. Ngựa chi có thể đá bằng 2 chân sau, nên gọi đó là những cú đá hậu (đá ngược về phía sau). Bị ngựa “đá hậu” trúng vào “vùng cấm địa” thì có thể đi tàu suốt, hoặc ít ra thì cũng ê ẩm cuộc đời. Có một câu chuyện cổ về ngựa đá:

Một tướng quân cưỡi ngựa tới viếng một ngôi đền. Tới nơi, tướng công cột ngựa vào chân tượng một con ngựa bằng đá dựng ở trước cửa, rồi vào trong viếng đền. Ít phút sau quay ra, thấy con ngựa của mình cứ co hai chân sau đá lia lịa vào con ngựa bằng đá. Tức cảnh sinh tình, tướng quân bèn nghĩ ra một câu đối. Về dinh, tướng quân viết câu đối lên cổng, và treo giải: Hễ ai đối được câu đối ấy, sẽ biếu con ngựa chiến (chiến mã) của mình. Câu đối (vế ra) là: CON NGỰA ĐÁ CON NGỰA ĐÁ.

Ai đi ngang qua dinh, dừng lại đọc, cũng cho là tướng công lẩm cẩm, vì đó chỉ là câu nói “lắp” (lặp đi lặp lại) một cụm từ “con ngựa đá”, chẳng có ý nghĩa gì, thì làm sao mà đối? Đúng là thứ văn chương của kẻ võ biền! Nghĩ là nghĩ vậy thôi, chớ chẳng dám nói ra vì tướng công nổi tiếng là oai phong lẫm liệt, đụng vào coi chừng mất chỗ đội nón dễ như chơi. Chờ hoài chẳng thấy ai đối được, tướng công khoái chí tự cho là mình “văn võ song toàn, thiên hạ vô địch”. Để trắc nghiệm cú đá ngựa ngoạn mục, tướng công liền kêu một thầy đồ vào dinh thử lửa. Cuộc đối thoại “ngựa đá – đá ngựa” bắt đầu:

–  Một câu đối bình thường mà không ai đối được. Xin thầy cho vế đối để tôi viết lên 2 cột cổng cho cân xứng.

–  Tôi hiểu ý tướng công muốn chơi chữ: 2 cụm từ “con ngựa đá” viết giống nhau, nhưng chữ “đá” trước là động từ, còn chữ “đá” sau là danh từ. Cả câu có nghĩa: Con ngựa thật (như con chiến mã của tướng công chẳng hạn) co cẳng đá con ngựa bằng đá.

–  Đúng là bậc thầy. Vậy xin thầy đối giúp.

–  Hiểu thì tôi hiểu ý tướng công, nhưng còn đối lại thì khó lòng tìm ra một câu có 2 vế sóng đôi về mặt từ ngữ như vậy được. Cũng giống như Trạng Quỳnh bị Hồng Hà nữ sĩ (Đoàn Thị Điểm) ra câu đối “DA TRẮNG VỖ BÌ BẠCH”. Câu đối này nếu chỉ hiểu theo nghĩa nôm na thì rất khêu gợi (cảnh nữ sĩ đang tắm, hai tay vỗ bì bạch lên làn da trắng nõn); nhưng ở đây để lỡm một quan trạng hay chữ, nên từ tượng thanh “BÌ BẠCH” lại được dùng như một từ Hán Việt. Câu đối có 2 vế: một vế chữ Nôm (DA TRẮNG), một vế chữ Hán Việt (BÌ BẠCH), mà BÌ có nghĩa là DA, BẠCH có nghĩa là TRẮNG. Thế là Trạng Quỳnh bỗng chốc biến thành “Trạng Bí”, tiu nghỉu như mèo bị cắt tai, lủi mất tăm.

Tuy thầy đồ không đối được, nhưng tướng công cũng bái phục sự hiểu biết của thầy, và biếu luôn thầy con ngựa chiến của mình. Ấy thế là thầy đồ bị NGỰA ĐÁ, nhưng quyết thắng ĐÁ NGỰA, cuối cùng được THƯỞNG NGỰA. Vui thật!

NGÃ NGỰA
ngua6CÚ NGÃ NGỰA ĐỔI ĐỜI (LỄ THÁNH PHAO-LÔ TÔNG ĐỒ TRỞ LẠI – 25/01)

NHỜ NGÃ NGỰA, SAO-LÔ ĐÓN HỒNG ÂN TRỞ LẠI ĐƯỢC THOÁT MÙ, PHAO-LÔ SỐNG MẦU NHIỆM PHỤC SINH

Bị NGỰA ĐÁ thì đau lắm, nhưng bị NGÃ NGỰA thì sao? Khi đã nói ai đó bị ngã ngựa là nói người ấy bị thất bại thê thảm, còn đau hơn cả bị ngựa đá. Ngã ngựa cũng có nhiều kiểu: ngã ngựa trong chính trường, trong tình trường, ngã ngựa trong chiến trận, trong kinh doanh, kể cả ngã ngựa trong phòng the (“thượng mã phong”)… Vậy mà có một chuyện ngã ngựa không thất bại mà thành công rực rỡ, cổ kim hãn hữu: Đó là cú ngã ngựa đổi đời của ông Sao-lô. 

Sao-lô là ai mà lạ lùng thế? Xin mời đọc lời tự sự của chính đương sự: “Tôi là người Do-thái, sinh tại Tac-xô miền Ki-li-ki-a, nhưng tôi đã được nuôi nấng tại thành này (Giê-ru-sa-lem), dưới chân ông Ga-ma-li-ên. Tôi đã được giáo dục để giữ Luật cha ông một cách nghiêm ngặt. Tôi cũng đã nhiệt thành phục vụ Thiên Chúa như tất cả các ông hiện nay. Tôi đã bắt bớ Đạo này, không ngần ngại giết kẻ theo Đạo, đã đóng xiềng và tống ngục cả đàn ông lẫn đàn bà như cả vị thượng tế lẫn toàn thể hội đồng kỳ mục có thể làm chứng cho tôi. Tôi còn được các vị ấy cho thư giới thiệu với anh em ở Đa-mat, và tôi đi để bắt trói những người ở đó, giải về Giê-ru-sa-lem trừng trị.” (Cv 22, 3-5).

Cũng chính người đương thời (Thánh sử Lu-ca) đã viết về Sao-lô như thế này: “Phần ông Sao-lô, ông tán thành việc giết ông Tê-pha-nô. Hồi ấy, Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem trải qua một cơn bắt bớ dữ dội. Ngoài các Tông Đồ ra, mọi người đều phải tản mác về các vùng quê miền Giu-đê và Sa-ma-ri. Có mấy người sùng đạo chôn cất ông Tê-pha-nô và khóc thương ông thảm thiết. Còn ông Sao-lô thì cứ phá hoại Hội Thánh: ông đến từng nhà, lôi cả đàn ông lẫn đàn bà đi tống ngục.” (Cv 8, 1-3). Một điều thú vị là Phó tế Tê-pha-nô cũng được coi là học trò của Ga-ma-li-ên như Sao-lô. Vậy mà đã bị chính đồng môn Sao-lô chủ trì cuộc ném đá (Cv 7, 58). Đúng là cảnh “Gà nhà bôi mặt đá nhau” (tục ngữ VN). Ngựa cùng chuồng mà bôi mặt đá nhau chắc còn thê thảm hơn “Gà cùng một mẹ đá nhau”.

Tuy nhiên, Thánh Tê-pha-nô không hề oán than. mà coi việc tử vì đạo của mình là một tặng phẩm, một cơ hội noi gương Chúa và chết vì Đức tin. Hơn thế nữa, trước khi chết, ngài còn “quỳ gối xuống, kêu lớn tiếng: “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này.” Nói thế rồi, ông an nghỉ.” (Cv 7, 60). Đó phải chăng là một bản sao trung thực nhất hình ảnh Đấng Cứu Thế, trước khi sinh thì trên Thánh giá còn “cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23, 34)? Sao-lô đâu biết rằng lời cầu nguyện của vị tử vì đạo tiên khởi Tê-pha-nô đã trở thành hiện thực khi Đức Giê-su làm cho ông ngã ngựa và sau khi ngã ngựa, đã trở thành một người loan báo Tin Mừng không biết mệt mỏi.

Sách Công vụ Tông đồ kể lại việc ngã ngựa của Sao-lô như sau: “Vậy đang khi ông đi đường và đến gần Đa-mát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông. Ông ngã xuống đất… Ông Sao-lô từ dưới đất đứng dậy, mắt thì mở nhưng không thấy gì. Người ta phải cầm tay dắt ông vào Đa-mát. Suốt ba ngày, ông không nhìn thấy, cũng chẳng ăn, chẳng uống.” (Cv 9, 3-9). Sau đó thì “Ông Kha-na-ni-a liền đi; ông vào nhà, đặt tay trên ông Sao-lô và nói: “Anh Sa-un, Chúa đã sai tôi đến đây, Người là Đức Giê-su, Đấng đã hiện ra với anh trên đường anh tới đây. Người sai tôi đến để anh lại thấy được và để anh được đầy Thánh Thần.” Lập tức có những cái gì như vảy bong ra khỏi mắt ông Sao-lô, và ông lại thấy được. Ông đứng dậy và chịu phép rửa. Rồi ông ăn và khoẻ lại.” (Cv 9, 17-19).

Điều đó cho thấy Đấng là “Ánh Sáng Chân Lý” (“Ngôi Lời là ánh sáng thật” – Ga 1, 9; bởi chính Người đã khẳng định: “Tôi là ánh sáng đến thế gian” – Ga 12, 46), đã chiếu tỏa ánh sáng chói lòa làm cho Sao-lô ngã ngựa, khiến ông bị mù (thể lý) – một mạc khải cho biết ông đã bị mù tâm linh (nhiễm phải giáo lý sai lầm của các kinh sư, luật sĩ Pha-ri-sêu) – và khi được chữa khỏi bệnh mù thể lý thì cũng là lúc ông được Ánh Sáng Phục Sinh chữa khỏi bệnh mù nội tâm, được “đầy Thánh Thần”, sáng mắt sáng lòng nhận ra chân lý Cứu Độ. Từ đó trở đi, Chúa Ki-tô đã trở thành tất cả đối với Sao-lô. Khi đã biết Chúa Ki-tô thì “Những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Đức Ki-tô, tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người.” (Pl 3, 7-9).

Cũng từ đó trở đi, Sao-lô trở thành một Phao-lô Tông đồ dân ngoại và với tư cách ấy, ngài tuyên xưng sự duy nhất, sự bình đẳng, tình huynh đệ thực sự giữa tất cả mọi người trong Đức Ki-tô (“Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô. Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô.” – Gl 3, 27-28). Thấm nhuần chân lý “Đức Ki-tô là tất cả mọi sự và trong mọi người” (Cl 3, 11), Phao-lô hiên ngang rao giảng Tin Mừng vì được sống và được chết cho Chúa Ki-tô (“Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi.” – Gl 2, 20; “Bây giờ cũng như mọi lúc, Đức Ki-tô sẽ tỏ bày quyền uy cao cả của Người nơi thân xác tôi, dù tôi sống hay tôi chết: vì đối với tôi, sống là Đức Ki-tô, và chết là một mối lợi.” – Pl 1, 20-21)

Quả thật đó là “một cú ngã ngựa đổi đời”: Từ một Sao-lô “mù nội tâm” vì nhiễm phải giáo lý sai lầm, chuyên lùng bắt bách hại Ki-tô giáo, trở thành một Phao-lô Tông đồ kiệt xuất của dân ngoại, thành lập nhiều Giáo đoàn, mở mang phát triển Hội Thánh cách quang minh chính đại, khiến bản thân phải ra toà, tù tội, vất vả trăm đường, và cuối cùng được lãnh ấn Tử vì Đạo. Ấy cũng bởi vì “tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta.” (Rm 8, 38-39).

Nhìn vào biến cố “ngã ngựa” của Thánh Phao-lô để rồi nhìn lại cuộc đời mình, biết đâu người Ki-tô hữu hôm nay cũng bắt gặp rất nhiều những cú “ngã ngựa” của bản thân. Có những cú “ngã ngựa” trong đời sống thiêng liêng liên hệ với Chúa; có những cú “ngã ngựa” trong đời sống tình cảm liên hệ với tha nhân; có những cú “ngã ngựa” trong đời sống chiến đấu nội tâm; và có những cú “ngã ngựa” trong đời thường như sức khỏe, học hành, công việc, tình yêu… Tuy nhiên, điều quan trọng là đừng nhìn “ngã ngựa” chỉ như một thất bại để rồi cuốn theo thất vọng, quỵ ngã không gượng dậy được. Hãy nhìn “ngã ngựa” như một thất bại cho một thành công lớn hơn trong ơn thánh. “Thất bại” phải là “mẹ thành công” chớ không thể là “cha thất vọng” được. Ăn trái cấm là một thất bại của A-đam + E-và trong quyền làm chủ, nhưng lại là một thuận lợi mở ra chương trình cứu độ với mầu nhiệm Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. Cái chết của Đức Giê-su trên thập giá là một thất bại đau đớn trước mặt trần thế, lại là một thành công trong chiến thắng cứu độ vinh quang.

Cú “ngã ngựa” của Thánh Phao-lô là một thất bại chấm dứt cuộc đời mù quáng sống trong đêm đen săn lùng giết hại Ki-tô hữu, nhưng lại là một thành công rực rỡ mở đầu cuộc sống mới trong ân sủng Thiên Chúa. Nói là Đức Giê-su Thiên Chúa “gõ cửa” (như Lời Người dạy: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy” – Kh 3, 20) và đem ánh sáng đến cho Sao-lô, nhưng đặt giả thử Sao-lô cứ khép chặt cửa lòng không chịu “mở cửa” đón nhận, thì liệu có được một Phao-lô Tông đồ kiệt xuất hay không? Như vậy, người ngã ngựa không chỉ nhìn vào mình để cay cú cuộc đời, mà hãy “đứng thẳng và ngẩng đầu lên” (Lc 21, 28) nhìn vào Đấng Cứu Độ để tìm sức mạnh đứng lên trong ánh sáng niềm tin. Nếu “ngã ngựa” là điều không thể tránh được, thì điều quan trọng là hãy luôn tỉnh thức và sẵn sàng để biết đứng dậy. Không phải sự té ngã làm người ta trở nên mạnh mẽ, mà là khi biết đứng dậy người ta mới chứng minh được bản lĩnh mạnh mẽ của mình. “Thà thắp lên một ngọn đèn còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối” là vậy đó.

Tóm lại, ở đây không phải là vấn đề đem những cú ngã ngựa trần tục ra so sánh với cú ngã ngựa của Thánh Phao-lô do bàn tay Thiên Chúa tác động, mà vấn đề then chốt là nhìn vào biến cố Đa-mát để thấy được sự quan phòng của Thiên Chúa bao trùm lên tất cả. Từ đó, nhìn lại bản thân và coi những cú ngã ngựa trên đường đời là những thử thách cần thiết để trui rèn đức tin (“Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội, – vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi Đức Giê-su Ki-tô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự.” – 1Pr 1, 7); cốt làm sao cho nên giống Phao-lô như lời dạy của ĐTC Biển Đức XVI trong “Bài Giảng Khai Mạc Năm Thánh Phao-lô”:

“Trong Bức Thư gửi giáo đoàn Ga-lat, ngài đã cống hiến cho chúng ta một bản tuyên xưng đức tin của bản thân ngài, trong đó ngài mở lòng mình ra cho độc giả ở mọi thời đại và cho thấy những gì là nguồn mạch sâu xa nhất của đời sống ngài: ‘Tôi sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa là Đấng đã yêu thương tôi và hiến mình cho tôi’. Tất cả những gì Thánh Phao-lô làm đều được bắt đầu từ tâm điểm ấy. Đức tin của ngài là cảm nghiệm được Chúa Giê-su Ki-tô yêu thương một cách hoàn toàn riêng tư; nó là nhận thức về sự kiện Chúa Ki-tô đã chấp nhận chết đi không phải cho một cái gì đó vô danh mà là vì yêu thương ngài, yêu thương Thánh Phao-lô, và sự kiện là, khi sống lại, Chúa Ki-tô vẫn yêu thương ngài, đã hiến mình cho ngài. Đức tin của ngài đã được tình yêu của Chúa Giê-su Ki-tô chiếm đoạt, một tình yêu chi phối bản thể sâu xa nhất của ngài và biến đổi ngài. Đức tin của ngài không phải là một thứ lý thuyết, một chọn lựa Thiên Chúa hay trần gian. Đức tin của ngài là âm vang của tình yêu Thiên Chúa nơi tâm can của ngài. Bởi vậy mà chính đức tin ấy là tình yêu thương Chúa Giê-su Ki-tô”.

Năm nay (2014) Giáo Hội Việt Nam mở đầu chu kỳ 3 năm (2014-2016) cho công cuộc “Tân Phúc-Âm-hóa”, với chủ đề “Phúc-Âm-hóa Gia đình”, mà gia đình là môi trường đầu tiên và thuận lợi nhất cho việc vun trồng Đức Ái Ki-tô giáo, đồng thời cũng là mái trường đầu tiên giáo dục Tình Yêu Thiên Chúa, thế thì tại sao không học và sống theo gương Thánh Phao-lô sống Đức Tin trong “âm vang của tình yêu Thiên Chúa nơi tâm can”? Vâng, cha mẹ hãy cụ thể hóa tình yêu hôn nhân bằng cách yêu thương nhau hết lòng, để từ đó giáo dục con cái biết yêu kính cha mẹ và yêu thương nhau, như Đức Hôn phu Giê-su Thiên Chúa yêu thương Hiền thê Giáo Hội, như Thánh Phao-lô – vị “Tông đồ muôn dân” – sống trọn vẹn Đức Mến đối với Đức Giê-su Thiên Chúa và với tất cả anh em trong tất cả các cộng đoàn mà ngài đã coi là gia đình của ngài. Thánh nhân được gọi là vị “Tông đồ dân ngoại” kiệt xuất chính là ở điểm “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1Cr 13, 13), và “Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo.” (Cl 3, 14).  

Trong bối cảnh một xã hội chứa đầy cảnh “bạo lực gia đình”, “chán cơm thèm phở”, “nạo phá thai, hủy diệt trứng, tinh trùng”, “gà nhà bôi mặt đá nhau”; thì lời khuyên chí tình vẫn chỉ có thể là “Khôn ngoan đá đáp người ngoài, Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.” (ca dao VN). Vâng, kẻ khôn ngoan là phải biết đá đáp thế lực thù địch của ba thù từ bên ngoài đưa tới, còn trong một gia đình (từ Hội Thánh tại gia đến đại gia đình Giáo Hội hoàn vũ) cùng chung một Mẹ Đức Tin – Mẹ Thiên Chúa, cùng là con một Cha trên trời, thì đừng bao giờ “bôi mặt đá nhau”. Hãy nhìn, lắng nghe, học hỏi nơi mẫu gương ngã ngựa của Thánh Phao-lô, cầu nguyện để được sống như một người “khôn ngoan thật sự” (1Cr 3, 18). Ước được như vậy.

Ôi! “Lạy Chúa, Chúa đã dùng lời rao giảng của Thánh Phao-lô Tông Ðồ để dạy dỗ muôn dân. Hôm nay mừng kỷ niệm ngày thánh nhân trở lại tin theo Ðức Ki-tô, xin cho chúng con hằng noi theo gương thánh nhân để lại mà tiến đến gần Chúa và trở nên chứng nhân của Tin Mừng. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ Lễ Thánh Phao-lô Tông Đồ Trở Lại).

JM. Lam Thy Đinh Văn Diệm


Nguồn tin: lamhong.org

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thế Giới Nhìn Từ Vatican

12/10/2017: Kỷ niệm 80 năm bức ảnh Lòng Chúa Thương xót


LƯỢC SỬ GIÁO XỨ KIM PHÁT





TÌM HIỂU HỌC THUYẾT XHCG



SỐ 22

SỐ 23

SỐ 24

LIÊN KẾT WEBSITE













 

Liên kết nhanh





      PVGK - XH              
Đêm Thánh ca NGỢI CA
LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT phần 1 

Đêm Thánh ca NGỢI CA
LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT phần 2

-->