14:00 EDT Thứ sáu, 17/08/2018

Chuyên mục

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 38


Hôm nayHôm nay : 4254

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 96492

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10167787


Kim Phát:
Dâng Hoa Kính Mẹ 2018


GX Kim Phát - Thánh Lễ
Ban Bí Tích Thêm Sức 2018

Trang nhất » Chuyên Đề » Phụng vụ

Hướng dẫn cử hành thánh lễ theo QUY CHẾ TỔNG QUÁT SÁCH LỄ RÔMA MỚI

Chủ nhật - 10/07/2016 00:03
-->
HƯỚNG DẪN 
CỬ HÀNH THÁNH LỄ

THEO QUY CHẾ TỔNG QUÁT SÁCH LỄ RÔMA MỚI


Lời Dẫn Nhập
 
Theo quyết định “CANH TÂN PHỤNG VỤ” của Công Đồng Vaticanô II, SÁCH LỄ RÔMA được sửa đổi. Ấn bản mẫu thứ nhất được công bố năm 1970. Ấn bản thứ hai năm 1975 (bản này được dịch ra tiếng Việt và ấn hành năm 1992). Ấn bản thứ ba được công bố vào ngày 20 tháng 04 năm 2000 (bản dịch tiếng Việt của UBPT/TQ sắp hoàn thành).
Trong ấn bản mới nhất này, QUY CHẾ TỔNG QUÁT (QCTQ) gồm có Lời mở đầu và IX chương[1] như sau:
I. Tầm quan trọng và sự cao quý của việc cử hành Thánh Lễ.
II. Cơ cấu Thánh Lễ, các yếu tố và các phần của Thánh Lễ.
III. Những nhiệm vụ và Thừa tác vụ trong Thánh Lễ.
IV. Những hình thức cử hành Thánh Lễ.
V. Cách xếp đặt và trang trí Thánh Đường để cử hành Thánh Lễ.
VI. Những gì cần phải có để cử hành Thánh Lễ.
VII. Việc lựa chọn Thánh Lễ và các phần Thánh Lễ.
VIII. Các Thánh Lễ, các lời nguyện tùy nhu cầu và các Thánh Lễ cầu cho người qua đời.
IX. Các thích nghi thuộc quyền Giám Mục và HĐGM.
Tất cả những điều được trình bày trong QCTQ đều quan trọng và phải được tìm hiểu đầy đủ, sâu rộng khi có điều kiện và thời gian thích hợp. Ở đây chỉ xin nêu lên những điều cần quan tâm khi cử hành Thánh Lễ, để có thể tuân giữ đúng Quy Luật Phụng Vụ cách thống nhất trong toàn Giáo Phận, dựa theo:
* Quy Chế Tổng Quát (QCTQ) của SÁCH LỄ RÔMA (2000).
* Bản đúc kết (BĐK) theo SÁCH LỄ RÔMA MỚI NĂM 2000 của Ủy Ban Phụng Tự toàn quốc, đã được HĐGM VN phê chuẩn tháng 09/2001(để ghi chú những hướng dẫn thích nghi được áp dụng tại Việt Nam).
* Những chỉ thị của Đức Giám Mục Giáo Phận trong một số trường hợp cụ thể thuộc thẩm quyền của ngài.
 
                                              BAN PHỤNG TỰ
                                           GP. BANMÊTHUỘT
                                                      12/2007


I. NGHI THỨC MỞ ĐẦU.

1.1. Nghi thức đầu lễ.
§ Khi giáo dân đã tập hợp, vị Tư Tế và Thừa Tác Viên mặc phẩm phục tiến tới Bàn thờ theo thứ tự sau đây:
a. Người mang bình hương có đốt hương sẵn, nếu có xông hương.
b. Các Thừa Tác Viên cầm nến và thầy giúp lễ hay một Thừa Tác Viên khác cầm Thánh giá đi giữa họ.
c. Các thầy giúp lễ và các Thừa Tác Viên khác.
d. Thầy đọc sách, thầy này có thể mang sách Tin Mừng, chứ không phải sách Bài Ðọc, nâng cao lên một chút.
e. Vị chủ tế. Nếu có xông hương, Linh Mục sẽ bỏ hương trước khi đi rước, chúc lành bằng Dấu Thánh Giá, mà không nói gì hết (QCTQ 120)[2]; (BĐK ghi chú 3).
§ RƯỚC SÁCH TIN MỪNG trong Thánh Lễ (nếu có) là phần vụ của Phó Tế (QCTQ 172). Tuy nhiên khi không có Phó Tế thì Thầy lãnh tác vụ đọc sách cũng có thể rước, mà không phải một giáo dân bình thường (QCTQ 120;194).
Sách Tin Mừng phải được đặt trên Bàn thờ khi rước vào đầu lễ (QCTQ  122;195), không đem sách Tin Mừng đặt trên giảng đài, bởi vì phụng vụ quy định đặt sách Tin Mừng trên Bàn thờ để rước sách này vào lúc đọc Tin Mừng; nếu đã rước vào đầu lễ thì cũng phải rước sau khi kết lễ, bằng không thì không rước sách Tin Mừng (GM 129).
+ Nghi thức đầu lễ được cử hành tại ghế chủ tọa trên một giá sách xứng đáng, đây là nghi thức đã có từ thời những thế kỷ đầu của Giáo Hội, mà phụng vụ ngày nay muốn phục hồi, việc cử hành đầu lễ tại Bàn thờ là không đúng với tinh thần phụng vụ, vì thế phần đầu lễ, Bàn thờ để trống, cho đến phần Phụng Vụ Thánh Thể mới đem Sách Lễ Rôma và lễ vật trên Bàn thờ. Không đưa bình đựng bánh lễ và chén thánh lên Bàn thờ từ đầu lễ, vì như vậy sẽ làm mất hết ý nghĩa cử hành. Tuy nhiên, vì lý do đặc biệt có thể để Sách Lễ Rôma trên Bàn thờ ngay từ đầu lễ. (QCTQ 50;73).
§ GHẾ CỦA CHỦ TẾ VÀ CÁC GHẾ ĐỒNG TẾ
+ Ghế của Chủ Tế phải nói lên vai trò của chủ tọa cộng đoàn và điều khiển kinh nguyện. Do đó, chỗ thích hợp nhất là phía đầu cung thánh hướng về giáo dân, trừ phi lối kiến trúc thánh đường hoặc những hoàn cảnh khác không cho phép. Ví dụ: Khoảng cách quá xa làm cho việc hiệp thông giữa vị Tư Tế và giáo dân trở nên khó khăn, hoặc vì Nhà Tạm chiếm chỗ giữa sau Bàn thờ.
+ Tránh đặt ghế Chủ Tế xoay lưng trước mặt Nhà Tạm. Phải tránh mọi thứ ngai tòa (QCTQ 310). Ngoài ra, cũng đặt ghế trong cung thánh cho các vị đồng tế; các Linh Mục hiện diện trong buổi cử hành không đồng tế, các vị này phải mặc áo “các phép”. Ghế của Thầy Phó Tế được đặt gần ghế của Chủ Tế. Còn các ghế cho các người giúp khác phải đặt sao cho phân biệt rõ rệt với ghế của hàng Giáo Sĩ, và cho người giúp lễ có thể thi hành phận vụ của mình dễ dàng (QCTQ 310).

1.2. Ca nhập lễ.
 Khi giáo dân đã tề tựu, Linh Mục cùng với người giúp lễ tiến lên cung thánh, mọi người đứng, bắt đầu hát ca nhập lễ (QCTQ 44;47)
Ca nhập lễ có thể hát hoặc đọc.
Nếu hátHoặc luân phiên giữa ca đoàn với dân chúng, hoặc luân phiên giữa một ca viên với dân chúng, hoặc tất cả do dân chúng hát, hay do một mình ca đoàn hát mà thôi. Có thể dùng điệp ca cùng với thánh vịnh, ghi trong sách Graduale Romanum hay trong sách Graduale Simplex; hoặc dùng bài hát nào khác phù hợp với cử hành phụng vụ, với tính chất của ngày lễ hay mùa phụng vụ. Bản văn bài hát này phải được Hội Đồng Giám Mục chuẩn nhận (QCTQ 48).
Nếu đọc: Hoặc một vài giáo dân hoặc một độc viên đọc bài ca nhập lễ ghi trong Sách LễNếu không có ai đọc, thì chính vị Tư Tế đọc, và Ngài có thể thích nghi nó theo cách lời khuyên nhủ khởi đầu (QCTQ 48).[3]

1.3. Lời chào đầu lễ.
Sau ca nhập lễ, vị Tư Tế đứng tại ghế chủ tọa cùng cộng đoàn làm Dấu Thánh Giá, tiếp đến lời chào, nói ít lời dẫn nhập, rồi bắt đầu Thánh Lễ (QCTQ 50;124).
Theo quy chế mới, Linh Mục chỉ được nói đôi lời rất vắn tắt (brevissime) dẫn vào một số nghi thức như:
- Sau lời chào đầu lễ và trước nghi thức sám hối.
- Trước các Bài Đọc.
- Trước Kinh Tiền Tụng để dẫn vào Kinh Tạ Ơn, (Nhưng không bao giờ được nói trong chính Kinh Tạ Ơn) (QCTQ 31).
- Trước phép lành cuối lễ (QCTQ 31). Nếu có thông báo thì phải thông báo sau Lời Nguyện Hiệp Lễ, trước khi kết thúc Thánh Lễ (BĐK ghi chú 19).

1.4. Nghi thức Sám Hối.
Vị Tư Tế mời mọi người sám hối. Sau một chút thinh lặng tất cả cộng đoàn đọc công thức thú tội chung và vị Tư Tế đọc lời xá giải để kết thúc.Lời xá giải này không có hiệu quả của bí tích Thống Hối. Vào ngày Chúa Nhật, nhất là trong mùa Phục sinh, thay vì nghi thức Thống Hối thường lệ,thỉnh thoảng nên làm phép và rảy nước thánh để nhớ lại Phép Rửa (QCTQ 51).[4]

1.5. Kinh Thương Xót.
Vì Kinh Thương Xót là bài hát giáo dân dùng để tung hô Chúa và kêu cầu lòng thương xót của Người, bài này thường được mọi người hát, nghĩa là dân chúng, ca đoàn hay xướng ca viên, đều góp phần vào đó.
Thường mỗi lời tung hô được hát hai lần, nhưng vì đặc tính của ngôn ngữ khác nhau, vì nghệ thuật âm nhạc hay vì hoàn cảnh, cũng có thể hát nhiều lần. Khi kinh “Lạy Chúa, xin thương xót” được dùng như là phần của nghi thức Thống Hối, thì trước nó có những câu tung hô riêng (BĐK 52).[5]

1.6. Kinh Vinh Danh.
Kinh Vinh Danh là một thánh thi rất cổ kính, mà Hội Thánh được đoàn tụ trong Chúa Thánh Thần, dùng để tôn vinh Chúa Cha và cầu khẩn Chiên Con. Không được thay đổi bản văn của kinh này bằng một bản văn khác (QCTQ 53).[6]
+ Kinh Vinh Danh, Thánh Vịnh đáp ca, kinh Tin Kính, Thánh Thánh Thánh, Đây Là Mầu Nhiệm Đức Tin, Kinh Lạy Cha, Chiên Thiên Chúa thìdù đọc hay hát đều phải theo đúng bản văn phụng vụ đã được phê chuẩn in trong Sách Lễ Rôma mới, phần nghi thức cử hành Thánh Lễ (BĐK ghi chú 4).

1.7. Lời nguyện nhập lễ.
 Trong Thánh Lễ chỉ đọc một lời nguyện nhập lễ mà thôivì thế, không được đọc nhiều lời nguyện nhập lễ của nhiều lễ trong cùng một Thánh Lễ rồi đọc câu kết. câu kết của lời nguyện nhập lễ luôn luôn là câu kết dài (QCTQ 54; 363).

II. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA.

Sau lời nguyện nhập lễ, Chủ Tế có thể nói rất vắn tắt (brevissimis verbis) để dẫn vào Phụng Vụ Lời Chúa (QCTQ 128).
- Phụng Vụ Lời Chúa phải được cử hành thế nào để giúp suy niệm; vì thế cần tránh sự vội vàng hấp tấp gây cản trở cho sự hồi tâm. Quy chế mới cũng nhắc lại và nhấn mạnh tầm quan trọng của thinh lặng trong cử hành phụng vụ. Sự thinh lặng là thành phần của cử hành. Hơn nữa, ngay từ trước khi cử hành Thánh Lễ, nên giữ thinh lặng trong nhà thờ, trong phòng thánh và ở những nơi gần đó (QCTQ 45; 56).
Sách Bài Đọc trong Thánh LễTiếp tục sử dụng bộ Sách Bài Đọc cũ của năm 1972 và không cho phép sử dụng bộ sách bài đọc mới do nhóm Phụng Vụ Giờ Kinh thực hiệnTheo thông báo của HĐGM VN do Đức Cha Batôlômêô ký ngày 07/10/2000, đăng trong báo Hiệp Thông số 10 trang 164-166: HĐGM và Tòa Thánh là thẩm quyền duy nhất về sách phụng vụ. Ai cử hành phụng vụ với những sách không được phê chuẩn hợp pháp thì không phải là cử hành phụng vụ của Giáo Hội Công Giáo (x. Giáo Luật số 838 và 846).

2.1. Các Bài Đọc.
Vào các ngày Chúa Nhật và Lễ Trọng phải đọc đủ và đúng ba bài đọc Thnahs Kinh. Bài đọc I lấy từ Cựu Ước, tuy nhiên vào mùa Phục Sinh bài đọc I lấy từ sách Công Vụ Tông Đồ, bài đọc II từ sách Tân Ước, bài đọc ba là Tin Mừng (QCTQ 357). Cũng vậy, khi Lễ Kính được nâng lên bậc Lễ Trọng thì thêm bài đọc thứ ba lấy từ phần chung; còn khi gặp lễ nhớ không có bài đọc riêng thì đọc theo ngày trong tuần (QCTQ 357).
- Các bài đọc Thánh Kinh được sắp xếp để làm sáng tỏ tính thống nhất của hai giao ước và lịch sử cứu độ, do đó, không được thay các Bài Đọc, Thánh Vịnh đáp ca, và Lời Chúa, bằng những bản văn ngoài Thánh Kinh (QCTQ 57; 62).
- Khi đọc Sách Thánh (các bài I và II) thì xướng “Bài trích sách chứ không đọc “Lời Chúa trong sách” hoặc “Lời Chúa trong thư” bởi vì cuối bài đọc đã xướng “Đó là Lời Chúa” nhằm xác nhận bản chất của lời vừa đọc. Cũng lưu ý thêm: “không đọc dòng chữ nhỏ in nghiêng trước các bài đọc” (BĐK ghi chú 5).
- Trong các Thánh Lễ có giáo dân tham dự, các bài đọc luôn phải được đọc tại giảng đài (QCTQ 58).

2.2. Đáp ca.
Thánh Vịnh đáp ca được chọn lựa kỹ lưỡng liên quan trực tiếp đến mỗi Bài Đọc và thường lấy ở sách Bài Đọc, và nên hát, ít là câu đáp của giáo dân. Chỉ sử dụng những bài hát đã được chuẩn ấn. Thánh Vinh đáp ca thường được hát hay đọc tại giảng đài (QCTQ 61; 62; 309). Riêng tại Giáo Phận Banmêthuột, theo chỉ thị của Đức Giám Mục Giám Quản Tông Tòa, thì phải hát đáp ca tại giảng đài.

2.3 Alleluia.
Tâm tình khi hát Alleluia là tâm tình hân hoan, vui tươi, vì thế Hội Thánh hát Alleluia vào các ngày Chúa Nhật cũng như các ngày trong tuần, Lễ Trọng cũng như Lễ Kính, trừ mọi ngày trong Mùa Chay (QCTQ 62).
Alleluia hay câu trước Tin Mừng, nếu không hát thì có thể bỏ (QCTQ 63c).
- Khi xướng All, cộng đoàn đứng, trong khi đó Linh Mục bỏ hương, nếu có xông hương (BĐK ghi chú 7).

2.4. Tin Mừng.
Khi Linh Mục hay Phó Tế đọc bài Tin Mừng, mọi người hướng về giảng đài để tổ lòng đặc biệt tôn kính Tin Mừng Chúa Kitô (QCTQ 133; 29); (GM 74). Mọi tín hữu phải kính cẩn lắng nghe các bài đọc Lời Chúa vì thế không được chia vai đọc Tin Mừng, cũng không được cùng với cộng đoàn công bố Tin Mừng chung (QCTQ 29; 59).
Không được phân chia các vai để đọc bài Thánh Kinh, trừ bài Thương Khó trong Tuần Thánh (QCTQ 109), cũng không được phép đọc các bài Sách Thánh và Phúc Âm chung cả Nha Thờ (BĐK ghi chú 7).
- Trước khi công bố Tin Mừng không dang tay đọc “Chúa ở cùng anh chị em” (BĐK ghi chú 7 và 8).
Sau khi đọc Tin Mừng xong: Đối với các Linh Mục và Phó Tế, không được phép giơ Sách Thánh lên và xướng “Đó là  Lời Chúa” (BĐK ghi chú 8).
- Nhưng đối với Giám Mục, trong các dịp lễ đặc biệt long trọng, Giám Mục có thể giơ cao Sách Tin Mừng để ban phép lành cho dân chúng(QCTQ 175).
- Công bố Tin Mừng là phận vụ của những người có chức thánh. Giáo dân kể cả tu sĩ, chủng sinh nếu không phải là Phó Tế không được công bố Tin Mừng trong Thánh Lễ (QCTQ 59); (RS 63).
- Trong Thánh Lễ do Giám Mục Chủ Tế, Thầy Phó Tế hoặc Linh Mục công bố Tin Mừng đều phải xin phép lành của Giám Mục trước khi công bố Tin Mừng và làm dấu trên mình (QCTQ 175). Tuy nhiên khi Chủ Tế là Linh Mục thì Linh Mục đọc Tin Mừng không phải xin chúc lành của Linh Mục Chủ Tế (QCTQ 212).
- Khi Thầy Phó Tế giúp Giám Mục, Thầy đưa sách cho ngài hôn, hay chính Thầy vừa hôn sách vừa đọc thầm “Nhờ những Lời Tin Mừng vừa đọc …”, còn Linh Mục sau khi công bố Tin Mừng thì hôn sách Tin Mừng (QCTQ 175).

2.5. Bài giảng lễ.
Bài giảng lễ do Chủ Tế, hoặc Linh Mục đồng tế hay một Phó Tế, nhưng không bao giờ là một giáo dân. Trong trường hợp đặc biệt và có lý do chính đáng, một Giám Mục, hay một Linh Mục không đồng tế cũng có thể giảng (QCTQ 66). Không bao giờ (jamais) giáo dân kể cả chủng sinh, sinh viên thần học, trợ tá mục vụ được phép giảng (RS 64).[7]
- Khi giảng phải đứng tại Ghế Chủ Tọa hoặc giảng đài hay một nơi nào xứng hợp nhưng phải ở trong cung thánh (QCTQ 136). Không được phép đi xuống nơi giáo dân, hay đi lại giữa nhà thờ giảng theo kiểu dạy giáo lý, là việc làm ngoài Thánh lễ (BĐK ghi chú 10).
- Trong mỗi nhà thờ chỉ có một giảng đài mà thôi và người công bố Lời Chúa sẽ đứng tại đây, không phân biệt Linh Mục hay tín hữu. Vì thếkhông được phép làm hai giảng đài, một cho Linh Mục và một cho tín hữu (BĐK ghi chú 11).
- Đừng để lẫn lộn thông báo với bài giảng, cũng đừng vì lý do có thông báo mà bỏ giảng (BĐK ghi chú 19); (RS 74).

2.6. Kinh Tin Kính.
Kinh Tin Kính phải do vị Tư Tế hát hay đọc chung với giáo dân vào các ngày Chúa Nhật và Lễ Trọng; cũng có thể đọc trong những lễ đặc biệt khá trọng thể (QCTQ 67; 68).[8]
Không  được sử dụng Kinh Tin Kính nào không có trong sách phụng vụ và đã được phê chuẩn (RS 69).[9]

2.7. Lời Nguyện Tín Hữu (Oratio universalis)
Khi đọc Lời Nguyện Tín Hữu, Linh Mục điều khiển từ ghế chủ tọa. Ngài chắp tay, vắn tắt mời dân chúng cầu nguyện. Phó Tế, Thầy đọc sách hay một người khác đứng ở giảng đài, quay về phía giáo dân, xướng các ý nguyện, dân chúng đáp… Sau cùng, Linh Mục dang tay đọc lời nguyện kết thúc (QCTQ 138; 71).
Thứ tự ý nguyện thường là:
Cho các nhu cầu của Hội Thánh.
Cho các người trong chính quyền và cho toàn thế giới được an bình.
Cho các người đang gặp bất cứ khó khăn nào.
Cho cộng đoàn địa phương.
Nhưng trong một buổi cử hành đặc biệt nào đó, như là Thêm Sức, Hôn Phối, An Táng, thì thứ tự ý nguyện có thể dành ưu tiên cho trường hợp đặc biệt đó (QCTQ 70).[10]
Các ý nguyện nêu ra cần phải chừng mực, được soạn thảo với sự tự do và ngắn gọn, diễn tả lời nguyện của toàn thể cộng đoàn (QCTQ 71).

III. PHỤNG VỤ THÁNH THỂ.

3.1. Ca tiến lễ và dâng lễ phẩm.
Việc dâng lễ vật phải được thực hiện cách đơn giản và trang nghiêm. Trong lễ vật, cần ưu tiên bánh và rượu, là lễ phẩm được dùng để cử hành Thánh Thể, còn lễ phẩm khác được tùy ý do lòng tri ân, biểu lộ nét đặc trưng của mỗi miền.[11]
Bánh phải làm bởi bột mì tinh tuyền, mới chế biến; được người đạo đức hiểu biết làm. Không được pha trộn và đã hư hỏng (RS 48).
Rượu là rượu nho tự nhiên, tinh khiết không pha trộn, không hư chua. Tuyệt đối cấm (adsolument interdit) mọi thức uống khác vì không tạo nên một chất thể để thành sự (RS 50).[12]
+ Đang khi dâng lễ vật thì hát ca tiến lễ, bài ca này được kéo dài cho tới khi chuẩn bị lễ phẩm trên bàn thờ xong, nghĩa là khi Chủ Tế rửa tay xong, do đó cần kết thúc bài ca tiến lễ theo đúng chức năng của nó (QCTQ 74; 178).
+ Xong Lời Nguyện Tín Hữu, các Phó Tế và các tá viên đem khăn thánh, khăn lau chén, chén thánh và sách lễ, đặt trên bàn thờ. Rồi mang của lễ lên. Tín hữu nên biểu thị sự tham gia của mình, bằng cách mang bánh và rượu thì Phó Tế mang lên bàn thờ, còn các tặng phẩm khác thì đặt ở nơi xứng hợp đã dọn sẵn ngoài bàn thờ (GM 145; RS 70).

3.2. Xông hương.
XÔNG HƯƠNG HAY BÁI HƯƠNG: Trong sách Nghi Thức Giám Mục 1984 (trang 140, 2), HĐGM VN đã quyết định cho phép sử dụng lư hương trong nhà thờ, vì thế có thể sử dụng một trong hai. Trong một Thánh Lễ nếu xông hương thì thôi vái hương, và ngược lại. (BĐK ghi chú 3)
+ Khi bỏ hương vào bình, Linh Mục thinh lặng làm dấu thánh giá trên bình hương (QCTQ 277). Khi xông hương phải có khói. Trước và sau khi xông hương phải cúi sâu chào những người hay những vật được xông hương, ngoại trừ bàn thờ và lễ phẩm dùng trong thánh lễ (QCTQ 277).
PHẢI XÔNG HƯƠNG NHƯ THẾ NÀO?
Quy chế Sách Lễ Rôma 2000 không nói đến cách xông kép (double) hay xông đơn (simple) nữa, mà chỉ nói đến xông thẳng (ductus) và xông từng cái (ictus). Xông từng cái một khi xông chung quanh bàn thờ, còn xông thẳng vào những trường hợp sau đây:
Xông ba lần (tribus ductibus): Thánh Thể, di tích Thánh giá, ảnh Chúa được trưng bày cho tôn kính công khai, lễ phẩm dùng cho hy tế Thánh Lễ, Thánh giá Bàn thờ, sách Tin Mừng, nến Phục Sinh, Linh Mục và giáo dân.
Xông hai lần (duobus ductibus): Trước di tích hay ảnh tượng các thánh để ra công khai cho tín hữu thờ chỉ lúc đầu cuộc cử hành khi xông hương bàn thờ (QCTQ 277).
n Bàn thờ được xông hương bằng những cái lắc bình hương phía phải, phía trái.
- Nếu bàn thờ tách biệt vách tường, Linh Mục đi vòng chung quanh bàn thờ mà xông hương.
- Nếu bàn thờ dính liền với vách tường, vị Tư Tế xông hướng phía phảirồi phía trái.
Nếu đặt Thánh trên bàn thờ hay tại bàn thờ, thì xông hương Thánh giá trước khi xông hương bàn thờ; trong những trường hợp khác, xông Thánh giá khi đi ngang qua.

3.3. Kinh Tạ Ơn.
Từ sau “Thánh, Thánh, Thánh” đến hết “Amen” của Vinh Tụng Ca “Chính nhờ Người…” cộng đoàn quỳ. Tuy nhiên, tùy theo hoàn cảnh mỗi nơi có thể đứng hay quỳ trong phần Kinh Nguyện Thánh Thể.
Nếu ai đứng, người đó sẽ cúi sâu mình khi Linh Mục bái thờ Mình và Máu Chúa (BĐK ghi chú 13).
Trong Kinh Nguyện Thánh Thể chỉ được sử dụng Kinh Nguyện Thánh Thể đã được Tông Tòa phê chuẩn. Cấm Linh Mục tự biên soạn hoặc tự ý thay đổi bản văn đã được biên soạn (RS 51).
- Linh Mục và chỉ Linh Mục đọc toàn bộ Kinh Nguyện Thánh Thể. Cấm mọi thành phần khác đọc chung hoặc riêng, đọc một phần hay tất cả Kinh Nguyện Thánh Thể (RS 52).
- Khi Linh Mục đọc Kinh Nguyện Thánh Thể mọi người phải thinh lặng, trừ những lời đối đáp hoặc tung hô đã được trù liệu (RS 53; 54).
- Linh Mục không được bẻ bánh lúc Truyền Phép (RS 55).
- Không được bỏ nêu tên Đức Giáo Hoàng và Đức Giám Mục Giáo Phận (RS 56).[13]
- Có thể đọc tên các vị Giám Mục phó và phụ tá, còn các vị Giám Mục khác không được xướng tên. (Theo chỉ thị của Đức Giám Mục Giám Quản Tông Tòa Giáo Phận, thì tại Banmêthuột được xướng thêm tên các Đức Cha đã nghỉ hưu).
- Khi Giám Mục cử hành ngoài Giáo Phận mình, thì sau những lời: “Cùng với Đức Thánh Cha T…”, ngài thêm: “Và con là tôi tớ bất xứng của Cha, và người anh em con là T… Giáo Mục Giáo Phận T… này” (QCTQ 149).

3.4. Rung chuông.
Lưu ý: Chỉ rung chuông vào những lúc sau đây, trong Thánh Lễ:
- Lúc Chủ Tế đặt tay trên của lễ (trước lúc đọc lời Truyền Phép).
- Lúc Chủ Tế nâng Mình Thánh và Chén Máu Thánh, sau lời Truyền Phép cho các tín hữu thấy.
- Và sau khi Chủ Tế đã rước Mình Thánh và Máu Thánh xong.
+ Có thể dùng chiêng, cồng hay trống thay chuông nhưng không nên kéo dài hay gây quá ồn ào (x. QCTQ 150); (BĐK ghi chú 14).

3.5. Vinh Tụng Ca.
Ý nghĩa: đây là lời chúc vinh Thiên Chúa kết thúc và tô đậm nét chính yếu của Kin Tạ Ơn với một công thức vững vàng: “Chính nhờ Người…” công thức này cho ta thấy trong Người mà mọi chúc tụng đều quy về Chúa là Cha trong Thánh Linh, Thánh Thể của Giáo Hội.
+  Đặc tính: long trọng và xác tín trong lời tung hô và thưa lớn tiếng.
Cách thực hiện: sau khi Linh Mục hát (hay đọc): “… đều quy về Chúa là Cha Toàn Năng trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời”, thì giáo dân thưa lớn tiếng: “Amen”. Có thể lặp lại tiếng Amen 2 hay 3 lần: cộng đoàn tán đồng với tất cả những điều vừa được đọc trong Kinh Tạ Ơn (x. QCTQ 79h).[14]

3.6. Kinh Lạy Cha.
Kết thúc Vinh Tụng Ca, Chủ Tế đặt chén dĩa xuống, chắp tay đọc: “Vâng lệnh Chúa Cứu Thế và theo lời Người dạy, chúng ta dám nguyện rằng …
Chủ Tế dang tay cùng với giáo dân đọc Kinh Lạy Cha.
+ Lưu ý: khi đọc Kinh Lạy Cha, chỉ có Chủ Tế và đồng tế dang tay mà thôi, giáo dân không được dang tay trong lúc này (BĐK ghi chú 15).[15]

3.7. Nghi thức Chúc Bình An
Chúc bình an: Nếu có lý do chính đáng Linh Mục có thể trao bình an cho các Thừa Tác viên, nhưng chỉ trong cung thánh mà thôi, còn giáo dân trao bình an cho người gần mình. Cách thức trao bình an do HĐGM quy định, khi trao bình an có thể nói: “Bình an của Chúa ở cùng ông bà…” và đáp lại: “Amen …” (QCTQ 82; 154).
Cách thức chúc bình an trong Thánh Lễ được HĐGM VN quy định như sau: Chủ Tế và cộng đoàn trao nhận bình an trong câu chúc “Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em”, mọi người đáp “và ở cùng Cha” và không làm cử chỉ nào khác.
+ Còn sau câu “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau”:
Đối với Chủ Tế và đồng tế: Chúc bình an cho người gần nhất và cũng chỉ cúi đầu, hai tay chắp lại hoặc đan vào nhau chào người kia và nói “Bình an của Chúa ở cùng cha”, người kia đáp lại “Và ở cùng cha”.
Đối với giáo dân: hai bên quay vào giữa, chắp hoặc đan hai bàn tay và cúi chào nhau theo cùng một cách mà không nói gì (BĐK ghi chú 16).[16]

3.8. Nghi Thức Bẻ Bánh.
Nghi thức bẻ bánh chỉ dành cho Linh Mục và Phó Tế, vì thế Thừa Tác viên ngoại lệ trao Mình Thánh không được làm. Không bao giờ giáo dân được bẻ bánh (QCTQ 83); (RS 73).[17]

3.9. Ca Hiệp Lễ.
Về việc đọc hay hát ca hiệp lễ: Đang khi chủ tế rước lễ thì hát hay đọc ca hiệp lễ như đã ghi trong sách (không được bỏ) (x. QCTQ 86-87).

3.10. Rước Lễ
Chủ Tế có thể giơ Mình Thánh trên dĩa hay trên chén Thánh cho tín hữu thấy và đọc “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian…” (QCTQ 84; 243).
- Phải cho tín hữu rước lễ ngay sau khi Chủ Tế rước lễ. Không được tiếp tục Thánh Lễ khi tín hữu rước lễ chưa xong (RS 88, năm 2004); (QCTQ 102).
- Chủ Tế hay Thừa Tác viên cầm Mình Thánh tra cho từng người rước lễ và nói: “Mình Thánh Chúa Kitô”; người rước lễ thưa: “Amen”. (RS 104, năm 2004).[18]
- Khi rước lễ, người tín hữu phải kính cẩn cúi đầu để biểu lộ việc tôn thờ Thánh Thể Chúa.
Để tùy nghi tín hữu rước lễ trên tay hay miệng, đứng hay quỳ, tuy nhiên dù rước cách nào cũng cần phải hướng dẫn tín hữu thái đọ và cung cách phải có để tôn kính Mình Máu Chúa.
- Khi rước lễ bằng tay thì người rước lễ phải nuốt ngay (aussitôt) khi nhận Mình Thánh (RS 92).
Không cho phép chính tín hữu tự mình cầm lấy Bánh Thánh và Chén Thánh, càng không được truyền cho nhau (QCTQ 160). Không đượcđặt bình đựng Mình Thánh trên một bàn nhỏ rồi tín hữu xếp hàng tự mình cầm hay rước Mình Máu Thánh (BĐK ghi chú 18).
- Giáo dân có thể rước lễ hai lần trong một ngày, nhưng chỉ trong buổi cử hành mà họ tham dự (RS 95).
Việc rước lễ dưới hai hình: Ngoài những trường hợp dự trù trong các Sách Nghi Thức (như ghi trong QCTQ 1975, số 242, khoản 1 đến 6), nay thêm những trường hợp sau:
a, Các Linh Mục không thể cử hành Thánh Lễ hay đồng tế.
b, Phó Tế và các người phục vụ trong Thánh Lễ.
c, Các thành viên các cộng đoàn trong Thánh Lễ cộng đồng (Missa Conventualis), các chủng sinh, các người tham dự tĩnh tâm hoặc tham dự hội thảo về tu đức hay mục vụ (QCTQ 283).
Tuyệt đối cấm không được (absolument éviter) đổ Máu Thánh từ chén này qua chén khác (RS 106). Máu Thánh còn lại phải được uống ngay bởi Linh Mục hoặc Thừa Tác viên (có chức thánh) khác (RS 107).[19]
+ Giám Mục có thể ra những quy định trong Giáo Phận về việc rước lễ dưới hai hình thức. Giám Mục cũng được quyền cho phép rước lễ dưới hai hình thức, mỗi khi Linh Mục Chủ Tế xét là nên (opportunum), với điều kiện: giáo dân được giáo huấn, không có nguy hiểm phạm thánh, nghi thức không trở nên phức tạp vì quá đông người hay vì lý do nào khác (QCTQ 283).
Chủ Tế chỉ nhờ các Thừa Tác viên ngoại lệ trao Mình Thánh Chúa khi thiếu các Linh Mục và Phó Tế (QCTQ 162). Khi nhờ Thừa Tác viên trao Mình Thánh thì ưu tiên là Thầy có thừa tác vụ Giúp Lễ. Thừa Tác viên trao Mình Thánh chỉ tiến đến bàn thờ sau khi Chủ Tế đã rước lễ xong. Thừa Tác viên nhận bình Mình Thánh từ tay Chủ Tế sau đó trao cho giáo dân rước lễ (QCTQ 162).
+ Sau khi rước lễ, thì giữ thinh lặng thánh hay hát một bài ca ngợi khen nào khác (x. QCTQ 88); (BĐK ghi chú 17).[20]

3.11. Tráng chén.
+ Có thể tráng chén ngay sau lúc rước lễ, nơi bàn thờ hoặc sau Thánh Lễ tại một bàn phụ (trường hợp trong lễ đồng tế có nhiều bình đựng Mình Thánh), tuy nhiên phải liệu sao để Máu Thánh được rước hết tại bàn thờ (QCTQ 163; 247; 279).
+ Công việc tráng chén là của Linh Mục, Thầy Phó Tế và Thầy đã lãnh thừa tác vụ Giúp Lễ (QCTQ 183; 192; 247; 279).

IV. NGHI THỨC KẾT THÚC.

+ Nếu có nói hay dặn dò hoặc đọc thông báo thì nói sau Lời Nguyện Hiệp Lễ, trước khi kết thúc Thánh Lễ.
Nếu ngay sau Thánh Lễ có cử hành nghi thức phụng vụ nào khác thì bỏ Nghi Thức Kết Thúc, tức là bỏ lời chào, lời chúc lành và giải tán (QCTQ 170).
 
 
PHỤ LỤC
 
CỬ HÀNH THÁNH LỄ GẮN LIỀN VỚI SỨ VỤ LINH MỤC, vì thế:
1. LINH MỤC NÊN CỬ HÀNH THÁNH LỄ MỖI NGÀY hoặc đồng tế với Linh Mục khác (QCTQ 19; 114)
+ Linh Mục được cử hành Thánh Lễ riêng, nhưng không được cử hành cùng giờ mà trong nhà thờ hoặc nhà nguyện có đồng tế, cũng không được cử hành một mình Thánh Lễ Tiệc Ly và canh thức Vượt Qua (QCTQ 199).
+ Linh Mục được quyền dâng lễ mỗi ngày một lần (GL 905/1). Tuy nhiên khi có lý do đặc biệt, Đấng Bản Quyền Giáo Phận sẽ cho phép dâng lễ hai lần trong một ngày; vào Chúa Nhật hoặc lễ buộc được dâng lễ ba lần (GL 905/2). Tại Giáo Phận Banmêthuột, đã được phép dâng tối đa 4 thánh lễ một ngày Chúa Nhật, khi có lý do mục vụ hết sức cần thiết đòi hỏi. Phép này cho đến hôm nay vẫn còn hiệu lực. Nếu cần dâng nhiều lễ hơn nữa thì phải xin phép riêng nơi Đức Giám Mục Giáo Phận.
2. KHI CỬ HÀNH THÁNH LỄ.
+ “Phải chấm dứt ngay việc Linh Mục tự ý thay đổi bản văn phụng vụ” (RS 59).
Chỉ có Linh Mục đọc toàn bộ Kinh Nguyện Thánh Thể, cấm các thành phần khác đọc một phần hay toàn bộ Kinh Nguyện Thánh Thể (RS 52).
Chỉ được gắn liền cử hành bí tích Thánh Thể với một nghi thức khác của bí tích, nếu Sách Phụng Vụ bắt buộc hay cho phép. Không chấp nhận kết hợp như thế trong những trường hợp khác (RS 75).
Các Linh Mục không cử hành thánh lễ có thể giải tội trong lúc đang cử hành Thánh Lễ. Nhưng không được liên kết bí tích Cáo Giải với Thánh Lễ (RS 76).
Không được cử hành Thánh Lễ trong nhà ăn, trên bàn ăn, hoặc nơi có để thức ăn.
Trong trường hợp tối cần phải giữ một khoảng thời gian (Un laps de temps) giữa cuối Thánh Lễ và đầu bữa ăn nếu tại cùng địa điểm (RS 77).
Không được kết hiệp Thánh Lễ với sự kiện chính trị hoặc phàm tục (nature politique).
Cấm đưa vào Thánh Lễ những nghi thức của các tôn giáo khác (RS 79).[21] Trong Thánh Lễ, Linh Mục chỉ được thích nghi những chỗ mà chữ đỏ dự trù, ngoài ra không được tự ý thêm, bớt hoặc thay đổi gì trong cử hành Thánh Lễ theo ý riêng mình, vì phụng vụ là việc cử hành của Giáo Hội mang tính phổ quát, phụng vụ được quy định rõ rệt bởi thẩm quyền của Giáo Hội (x. GL 838; 846); (QCTQ 24).
3. VỀ VIỆC CỬ HÀNH LỄ ĐỒNG TẾ.
+ Các Linh Mục được phép cử hành hay đồng tế hai hoặc ba lần cùng một ngày những lễ sau đây: Thứ Năm Tuần Thánh, Phục Sinh, Giáng Sinh, Các Đẳng, các dịp họp chung (QCTQ 204).
Theo luật chung của Hội Thánh hoàn vũ, thì mọi Giáo Phận buộc phải cử hành Thánh Lễ đồng tế vào các dịp sau đây: Lễ Truyền Dầu, Lễ Tấn Phong Giám Mục, Lễ Truyền Chức Linh Mục, Lễ chúc phong Viện phụ (QCTQ 199).
Khi Thánh Lễ đã bắt đầu, không được phép vào đồng tế nữa (QCTQ 206).
N.B: Tại Giáo Phận Banmêthuột, việc cử hành lễ đồng tế đã được Bề Trên Giáo Phận quy định trong một số trường hợp sau:
a. Lễ An Táng được phép đồng tế khi:
Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ qua đời.
Cha mẹ của Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ, Đại Chủng Sinh, Tập Sinh qua đời.
NB: Trường hợp cha mẹ của Linh Mục qua đời, thì chính người con Linh Mục được cử hành một Thánh Lễ tại nhà tang, nếu Linh Mục đó không thể về dâng lễ được, thì chỉ Linh Mục quản xứ hay phó xứ có thể dâng thay mà thôi.
b. Lễ Tạ Ơn được phép đồng tế một lần khi:
Tân Linh Mục dâng lễ mở tay tại Giáo xứ ông bà cố.
Tân Linh Mục dâng lễ tạ ơn tại chính Giáo xứ mình đang phục vụ.
Linh Mục mừng ngày kỷ niệm thụ phong Linh Mục.
Tu Sĩ nam nữ khấn trọn đời.
Tu Sĩ nam nữ mừng lễ Ngân Khánh, Kim Khánh, Ngọc Khánh… khấn dòng.
N.B: Ngoài những quy định ở mục a và b nêu trên thì cần phải xin phép Bề Trên Giáo Phận.
4. LỄ PHỤC.
+ Phẩm phục cho mọi Thừa Tác viên có chức thánh hay có thừa tác vụ thuộc bất cứ cấp bậc nào là:
Áo trắng dài (alba) có dây thắt lưng, trừ áo được may sát thân không cần dây.
Phải mang khăn vai nếu áo alba không che kín cổ áo thường đang mặc.
Không được thay thế áo alba bằng áo các phép, cũng không được mặc một áo dài tới gót thay cho áo alba khi phải mặc áo lễ hay áo Phó Tế (QCTQ 336).
Phẩm phục của Linh Mục khi cử hành Thánh Lễ: Áo lễ mặc ngoài áo alba và dây stola, nếu luật phụng vụ không định thể khác (QCTQ 337).
Chủ Tế phải mặc áo casula theo màu quy định, đồng tế được phép mặc áo alba và dây stola, nếu thiếu casula (RS 124).
Về kiểu dáng áo lễ:
Giữ như kiểu áo lễ hiện nay. Các kiểu mặc áo thụng hay loại áo khác cần phải có thời gian để nghiên cứu kỹ hơn (BĐK ghi chú 21a).
Về màu sắc áo lễ:
Lễ an táng: màu đen và tím
Các lễ trọngcó thể dùng màu vàng.
Lễ cưới, lễ mang màu sắc vui tươi, hân hoan: có thể dùng màu vàng hay màu hồng (BĐK ghi chú 21b).
 
 
 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. INSTITUTIO GENERALIS MISSALIS ROMANI 2000 (QCTQ).
2. Bản dịch “Quy chế tổng quát, Sách Lễ Rôma 2000”, của Linh Mục Phanxicô Nguyễn Chí Cần, Giáo Sư Phụng Vụ, Đại Chủng Viện Sao Biển Nha Trang.
3. Huấn thị “REDEMPTIONIS SACRAMENTUM” (RS) của Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích {Về một số điều phải tuân thủ hay phải xa lánh liên quan đến phép Thánh Thể} do Ủy Ban Phụng Tự trực thuộc HĐGM VN phổ biến, 25/03/2004.
4. “BẢN ĐÚC KẾT (BĐK) THEO NGHI THỨC PHỤNG VỤ SÁCH LỄ RÔMA MỚI” của UBPT đã được HĐGM VN phê chuẩn tháng 09/2001.
5. “Bản tóm tắt quy chế tổng quát Sách Lễ Rôma Mới”, và bài trả lời thắc mắc về “quy chế tổng quát” của Đức Ông FB. Trần Văn Khả, Rôma, 2005.
6. “Các nguyên tắc căn bản về phụng vụ” và “Tuyển tập những quy luật cơ bản khi cử hành phụng vụ, 2004” của Linh Mục Vinh Sơn Nguyễn Thế Thủ, Giáo sư Phụng Vụ Đại Chủng Viện Thánh Giuse, Sài Gòn.
7. Bản “Tóm lược thực hành Huấn Thị REDEMPTIONIS SACRAMENTUM” của Linh Mục Augustinô Hoàng Đức Toàn, Giáo Phận Banmêthuột.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

THÁNH LỄ BẾ MẠC NĂM THÁNH GP BMT

TRUYỀN HÌNH TRỰC TIẾP ĐẠI LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI - TTHH GIANG SƠN 15.8.2018

LƯỢC SỬ GIÁO XỨ KIM PHÁT




TÌM HIỂU HỌC THUYẾT XHCG



SỐ 22

SỐ 23

SỐ 24

LIÊN KẾT WEBSITE





















Liên kết nhanh





Giáo họ Kim Thành
Mừng Đại Lễ Chầu Lượt  2018

Ca đoàn thiếu nhi GX Kim Phát
mừng lễ bổn mạng

-->