21:08 EDT Thứ năm, 24/05/2018

KINH TẠ ƠN KIM KHÁNH THÀNH LẬP GIÁO PHẬN BANMÊTHUỘT


Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 80

Máy chủ tìm kiếm : 24

Khách viếng thăm : 56


Hôm nayHôm nay : 5446

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 129163

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9630983

Kim Phát:
Dâng Hoa Kính Mẹ 2018


Giáo họ Kim Thành
mừng lễ bổn mạng
và khai mạc Tháng Hoa 2018

Trang nhất » Bài giảng lễ

Bài giảng lễ CHÚA NHẬT XXXI - TN A

CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN NĂM A
Mt: 23:1-12:
 Tại sao gọi Linh mục là Cha ? Thói quen  ấy có từ lúc nào trong Giáo hội ? Đâu là nền tảng của cách gọi này ?   “Cha” theo định nghĩa, là một người đàn ông có một hay nhiều con. Một cách nào đó, Cha là người mang lại sự sống cho con. Do đó, bất cứ ai mang lại sự sống cho người khác, bằng cách này hay cách khác, cũng đều có thể được gọi là Cha. Người ta cũng gọi một ai đó là Cha Già Dân Tộc khi người này đã hy sinh đấu tranh mang lại độc lập cho tổ quốc. Danh từ Cha ở đây được hiểu theo nghĩa loại suy. Chúng ta gọi Cha những người đàn ông nào đó có đặc tính của người Cha. Cũng như khi chúng ta chào hỏi một người là ông bà, chú bác, thì không nhất thiết người đó phải có một liên hệ họ hàng với chúng ta. Danh xưng Cha được gán cho Linh mục cũng được hiểu theo nghĩa ấy.
          Cách gọi này không phải là điều mới mẻ, ngay từ đầu lịch sử Giáo hội, các Giám mục được gọi là Cha, rồi dần dà người ta áp dụng cách gọi ấy cho các Linh mục.  Lý do gọi Linh mục là Cha thật đơn sơ và tự nhiên : Linh mục là thừa tác viên các bí tích. Ngài nhân danh Chúa Kitô và Giáo hội để ban bí tích và sự sống ơn thánh.Qua lời dạy bảo, một cách nào đó, Linh mục cũng nuôi dưỡng người Kitô hữu trong đời sống thiêng liêng. Do đó Linh mục đóng vai trò người Cha đối với các tín hữu.  Công đồng Vaticanô II, trong sắc lệnh về sứ vụ và đời sống Linh mục, đã nói về tương quan giữa Linh mục và giáo dân: Do bí tích thánh chức, các Linh mục Tân ước thi hành nhiệm vụ cao cả và cần thiết, đó là Cha và Thầy trong dân Chúa và cho dân Chúa.
2 . Gọi Linh mục là Cha phải chăng đi ngược lại Tin mừng vì Đức Giêsu đã nói: đừng gọi ai dưới đất là Cha vì các ngươi chỉ có một Cha, Đấng ngự trên trời. Phải hiểu câu nói này như thế nào?   Vào thời Cải cách, người Tin Lành đã dựa vào câu nói này để bãi bỏ cách gọi Linh mục là Cha. Chúng ta phải hiểu đúng nghĩa câu nói của Đức Giêsu. Đặt câu nói này trong văn mạch của đoạn Tin mừng. Đức Giêsu đang tranh luận với nhóm Pharisiêu,Luật sĩ. Ngài khiển trách họ giả hình, nói mà không làm, họ thích thống trị, họ bó những gánh nặng chất lên vai người khác, còn họ không nhúng tay vào, họ thích khoe khoang làm mọi việc cho người ta thấy, họ hám danh muốn ngồi chỗ nhất nơi công cộng và muốn người khác tỏ lòng kính trọng qua những danh xưng thầy, cha, người chỉ đạo. Qua đó, Đức Giêsu đưa ra một quan điểm mới cho các môn đệ : trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em.
          Đức Giêsu không cấm chúng ta gọi Cha đẻ của mình là Cha hoặc gọi bất cứ ai dạy dỗ chúng ta là Thầy. Hẳn Ngài đã từng gọi Thánh Giuse là Cha và những người dạy mình là Thầy. Do đó, không nên hiểu câu nói ấy theo từng chữ. Người Do thái thường dùng kiểu nói phóng đại. Chúa Giêsu dùng kiểu nói này khi bảo rằng : Nếu tay con gây vấp ngã, hãy chặt nó đi. Nếu mắt con làm cớ cho con vấp phạm, hãy móc mắt đi để được vào Nước trời. Chính Thánh Phaolô, người hiểu sâu xa Lời Chúa, thế mà ngài tự xưng mình là Cha các tín hữu, ngài cũng gọi Timôthêô là con yêu dấu. Khi Đức Giêsu nói: “Đừng gọi ai trên mặt đất này là cha, vì ngươi chỉ có một Cha trên trời”, Ngài không phủ nhận chúng ta có những người cha người mẹ mà Thiên Chúa đòi buộc chúng ta phải kính trọng (x. Mt 15,4). Ngài muốn dạy rằng tình phụ tử nhân loại chỉ là một sự chia sẻ tư cách cha của Chúa Cha Tối Cao là Đấng Tạo Thành, một Người Cha hoàn hảo. Đức Giêsu vừa đề cao tính cách là Cha của Thiên Chúa, vừa xác định tính cách chỉ đạo của Ngài, đồng thời Ngài cũng đả phá sự kiêu hãnh của một số nhà lãnh đạo Do thái giáo thời đó, họ ưa thích được người ta gọi là Cha, là Thầy.
3. Có buộc phải gọi Linh mục là Cha không? Về cách xưng hô, dường như không có một luật nào buộc. Gọi Linh mục là Cha hay không, đó là vấn đề của tình cảm và niềm tin. Gọi Linh mục là Cha hay không, điều đó không quan trọng cho bằng có ác ý trong cách cư xử với Linh mục hay không. Sự thiếu lễ độ, lịch sự tối thiểu đối với một người lãnh đạo, dù chỉ là lãnh đạo một cộng đoàn nhỏ, không chỉ là một xúc phạm đến Linh mục, mà còn có thể xúc phạm đến chính tình cảm tôn giáo của người tín hưũ nữa. Chúng ta quen gọi các linh mục là cha. Tuy nhiên, đó không phải là danh xưng mang tính ẩn dụ hay màu sắc thi ca. Tư cách cha của linh mục là thật vì là sự tham dự vào tư cách Cha thần linh (x. 1 Cr 4,15; Ep 3,15). Vì thế, tư cách cha của linh mục được thiết lập bởi tư cách làm Cha của Chúa Cha trên trời mang tính tổng thể, hoàn tất việc tự hiến.
          Với tư cách là cha, linh mục thực hành như lời thánh Phaolô đã dạy Titô: "Phần anh, hãy dạy những gì phù hợp với giáo lý lành mạnh. Hãy khuyên các cụ ông phải tiết độ, đàng hoàng, chừng mực, vững mạnh trong đức tin, đức mến và đức nhẫn nại. Các cụ bà cũng vậy, phải ăn ở sao cho xứng là người thánh, không nói xấu, không rượu chè say sưa, nhưng biết dạy bảo điều lành. Đó là những điều anh phải nói, phải khuyên, phải sửa dạy với tất cả uy quyền. Chớ gì đừng có ai coi thường anh" (Ti 2,1-3.15).
          Đức Giêsu đã dạy bài học quan trọng nhất cho các linh mục, lãnh đạo là để phục vụ. Vào Bữa Ăn Tối, sau khi rửa chân cho Nhóm Mười Hai, Ngài nói : “Anh em gọi Thầy là “Thầy” và là “Chúa”, điều đó phải lắm. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em”. (Ga 13,13-15).
 
     CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN NĂM A
Mt: 23:1-12:
 
Vậy những gì họ nói với các ngươi, các ngươi hãy làm và tuân giữ,nhưng đừng noi theo hành vi của họ: vì họ nói mà không làm (Mt 23,3).  Người ta thường nói rằng lời nói phải đi đôi với việc làm mới có giá trị. Chỉ nói xuông, AI mà chẳng nói được. Lời nói thì qua mau: Lời nói mây bay, gương bày lôi kéo. Cuộc đời của mỗi Kitô hữu đã được nghe biết bao nhiêu lời huấn giáo, dậy dỗ và bài giảng. Các nhà lãnh đạo, phụ huynh, thầy cô giáo, linh mục, TU sĩ đã lo soạn bài và viết rất nhiều bài giảng, nhưng áp dụng cuộc sống thực tế được bao nhiêu còn tùy thuộc nhiều yếu tố. Chúng ta thường nghe lời giảng dậy nào cũng hay, ý nào cũng đẹp và lời chứng Minh nào cũng hùng hồn. Viết bài sáng sủa gọn gàng, ý tứ từng lời văn, câu nói và cách diễn tả cuốn hút lòng người. Giảng thì hùng biện, ngọt ngào như mật rót vào tai và gây cảm động lòng người. Linh mục giảng xong, giáo dân nghe rồi, người giảng cũng như người nghe cảm thấy vui vui trong lòng. Chúng ta không thể dừng tại đây. Phần áp dụng lời giảng dậy vào cuộc sống mới là phần quan trọng phải bước qua nhiều giai đoạn. Vì lời giảng dậy từ miệng lưỡi, được nghe qua tai và phải đi trở lại vào trái tim, rồi thực thi qua đời sống hằng ngày mới có hiệu nghiệm.
          Trong đời sống đạo, ngoài các lời dậy dỗ của các bậc thánh hiền, của ông bà cha mẹ và thầy cô, linh mục giảng dạy nhiều nhất, tuần nào cũng có bài giảng và có khi ngày nào cũng giảng. Bài giảng có nhiều phần: Nói về đức tin, về luân lý, về giáo lý, về kiến thức trong đạo, về cách sống lời Chúa và thực hành lời Chúa. Để lời Chúa được trổ sinh bông trái, chúng ta cần phải đem Ra áp dụng những gì đã nói và đã nghe trong cuộc sống. Trong thực tế, cuộc sống con người còn nhiều u mê và uẩn khúc lắm. Các linh mục được quyền giảng dạy là một đặc ân quý báu. Các linh mục cần chuẩn bị kỹ lưỡng bài giảng để bàn tiệc lời Chúa được có đủ hương thơm mỹ vị, giúp nuôi sống đời sống tinh thần của giáo dân. Tuy nhiên, chúng ta cũng thừa biết rằng linh mục cũng là con người yếu hèn và tội lỗi như chúng ta. Đời sống các linh mục có nhiều điểm tích cực đáng nêu gương, nhưng cũng không thiếu những việc làm tiêu cực, bất cập, yếu đuối và trì trệ. Chúa mời gọi mỗi người hãy nên thánh như Cha trên trời: “Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48).
          Chúa Giêsu nói một cách thẳng thắn và chân thành qua lời giảng dạy. Nghe lời Chúa cảnh tỉnh các Luật sĩ và Biệt phái trong bài phúc âm hôm nay, như có gì đó thôi thúc và nhói đau trong lòng, nhất là với những AI đang có sự vụ giảng dạy. Hầu hết chúng ta bị rơi vào hụt hẫng vì lời của Chúa xoáy vào tâm: Họ nói mà không làm. Chúng ta đây, AI cũng nói nhiều lắm, AI cũng có những ý tưởng tốt, AI cũng muốn nên tốt và dễ thương, dễ mến cả. Hơn nữa, AI cũng muốn được người ta khen là tốt lành, khôn ngoan, đạo đức và thánh thiện. Tự nhiên AI cũng muốn tự bênh vực cho mình là người sống chu toàn bổn phận đối với Chúa, với tha nhân và chính mình. Vẽ đường cho người khác thực hành thì dễ dàng và thích thú hơn là đặt mình trong cuộc. Chỉ có Chúa Giêsu là thầy dạy tuyệt vời, khi Chúa nói: Hãy theo Thầy. Theo Thầy và bước đi vào lối bước của Thầy.
          Chúng ta nói được rất nhiều điều tốt, nhưng làm không được hoặc không muốn làm. Chúng ta đã được nghe các lời giáo huấn tốt ngay từ khi có tuổi khôn. Những lời dạy của cha mẹ, thầy cô, anh chị và những người lớn tuổi như in vào tâm khảm qua tháng ngày. Nhưng rồi một ngày kia lại nghe lời than rằng: Ăn cháo đá bát. Nước đổ lá khoai. Khôn ba năm dại một giờ. Tính nào tật đó. Chúng ta lại trở về bản tính tự nhiên. Sự giằng co cứ dày vò giữa xấu và tốt, đúng và sai, có và không. Các cơn cám dỗ cứ quyện quanh chúng ta ở mọi nơi và mọi lứa tuổi. Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta hãy tỉnh thức luôn: Anh em hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối."(Mc 14,38). Điều tốt tôi muốn nhưng tôi lại không làm. Thánh Phaolô chia sẻ những yếu đuối của ngài: “Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm” (Rm 7,15).
          Trong cuộc sống, những điều tốt lành thì chúng ta chẳng muốn làm, nhưng lại cứ muốn chiều theo những ý hướng xấu xa và tìm những con đường quanh co, ngõ hẹp để luồn lách. Chúng ta cũng thật khó hiểu về chính mình. Khuynh hướng xấu nó chẳng loại trừ một ai. Vừa giảng xong về sự bác ái yêu thương và tha thứ trên bục giảng, giáo dân chưa ra khỏi nhà thờ, cha xứ đã nóng nảy rầy la và lớn tiếng với giáo dân: Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm (Rm 7,19). Vì là con người, ai ai cũng dễ phạm lỗi lắm. Vì thế không phải các linh mục tốt lành và thánh thiện hơn người khác mà có quyền giảng dạy. Nhận lãnh sứ vụ giảng dạy là một thách thức cho chính mình trước. Chúng ta cũng không thể lấy lý do vì sứ vụ để thoái thác lời mời gọi nên thánh nhưng là một thực tại mà mỗi người cần phải khắc phục: “Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn” (Gal 5,17).
          Chúng ta đã nghe rất nhiều bài giảng hay, giờ đây chúng ta muốn thấy bài giảng. Có nghĩa là hành động cụ thể những lời giảng dậy trong đời sống. Xem ra đây là một đòi hỏi phấn đấu không ngừng. Mỗi người chúng ta, các tín hữu cũng như linh mục cần xét mình, sửa sai và hối lỗi mỗi ngày. Cuộc sống tự nó sẽ tỏa ra hương thơm nhân đức: Hữu xạ tự nhiên hương. Chúng ta không cần phải khoe khoang nhân đức, chính cuộc sống là sự minh chứng hùng hồn nhất. Người ta thường nói: Trăm nghe không bằng thấy. Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ và dân chúng rằng: Vậy những gì họ nói với các ngươi, các ngươi hãy làm và tuân giữ. Chúng ta biết mà, mỗi người có bổn phận và trách nhiệm chuyên môn trong việc lưu truyền đời sống văn hóa, đạo đức, luân lý và đức tin cho thế hệ kế tiếp. Chúng ta cũng luôn phải học hỏi, tìm hiểu và lắng nghe những gì tốt lành. Ai trong chúng ta cũng phải học, ông 70 học nơi ông 71. Ngày nay, người lớn lại phải quay lại học nơi các trẻ em nhiều thứ. Có rất nhiều điều mới lạ chúng ta cần phải học hằng ngày. Học để mở rộng tâm trí và hiểu biết để biết cách cư xử ở đời.
          Một chi tiết trong bài Phúc âm, đôi khi chúng ta bức xúc tự hỏi tại sao phải gọi linh mục là cha? Trong Đạo Công Giáo, chúng ta có một số danh xưng như Thầy, Dì, Cha, Ông Cố, Đức Ông và Đức Cha. Bên Đạo Phật Giáo cũng có những danh xưng rất được tôn trọng như Bần Tăng, Tỳ Kheo, Đại Đức, Hòa Thượng, Thượng Tọa, Lão Hòa Thượng, Đại Lão Hòa Thượng, Đức Tăng Thống và Sư Cô, Ni Sư, Ni Trưởng, Sư Bà, Sư Cụ. Ngoài xã hội cũng có những từ như Sư Phụ, Thầy Cô, Giáo Sư, người Lãnh Đạo, Vua, Hoàng Hậu, Nữ Hoàng, Chủ Tịch, Tổng Thống… nói chung, mỗi một tôn giáo, tổ chức chính quyền xã hội có những danh xưng khác nhau để phân biệt chức vụ và trách nhiệm. Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta: “Và các ngươi cũng đừng gọi ai dưới đất là cha: vì các ngươi chỉ có một Cha, Người ngự trên trời” (Mt 23,9). Thật ra các linh mục cũng chẳng đòi phải được gọi là cha, nhưng trong lịch sử Giáo Hội, cách xưng hô này cũng đã thành thói quen lâu đời. Vả nữa, danh xưng “cha” ở đây cũng có nhiều ý nghĩa cấp bậc và tùy hoàn cảnh. Điều quan trọng nhất, là mỗi vị hãy sống xứng với danh xưng của mình.
          Chúng ta có bổn phận lắng nghe lời Chúa và những huấn dụ của Giáo Hội để áp dụng trong cuộc sống đạo. Chúng ta sẽ không bị thiệt thòi hay mất mát gì cả nhưng được lợi gấp trăm: “Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá” (Mt 7,24). Người khôn xây nhà trên đá, thực hành lời Chúa đòi hỏi một sự cố gắng liên lỉ, ví như người chèo thuyền ngược dòng nước. Đức Mẹ Maria đã được Chúa Giêsu khen tặng nhân dịp các người phụ nữ khác chúc tụng Mẹ: Người đáp lại: "Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành" (Lc 8,21). Đức trinh nữ Maria luôn chu toàn bổn phận là Nữ Tỳ của Thiên Chúa. Mẹ dõi theo từng bước của Con Mẹ trên đường truyền giáo. Mẹ thông phần đau khổ với Chúa Giêsu khi đứng dưới chân thánh giá.
          Sứ vụ rao giảng lời Chúa là một hồng ân cao cả. Người có trách nhiệm không thể làm ngơ, lơ là hay là mắt nhắm, mắt mở để có được lòng cảm mến của mọi người. Bổn phận của chúng ta là giảng giải và thực hành lời Chúa chứ không phải lời lẽ của riêng chúng ta. Hãy can đảm như thánh Phaolô là giảng lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện. Chúng ta sẽ được chúc phúc khi chu toàn bổn phận được trao ban. Chúa Giêsu đã nhắc nhở: “Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời” (Mt 5,19).   
 
 

Thế Giới Nhìn Từ Vatican

16/05/2018: Kết cục bất ngờ của những kẻ trộm tượng Đức Mẹ tại Wiscosin

Giáo họ Kim Thành Mừng Đại Lễ Chầu Lượt 2018