18:21 EDT Thứ ba, 22/08/2017

KINH TẠ ƠN KIM KHÁNH THÀNH LẬP GIÁO PHẬN BANMÊTHUỘT


Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 16


Hôm nayHôm nay : 3402

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 135147

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7958330

Trang nhất » Bài giảng lễ

Bài giảng LỄ TẾT từ 30 Tết đến Mồng Ba Tết

LỄ TẤT NIÊN- LỄ GIAO THỪA
Đã lắm phen và bằng nhiều cách, Thiên Chúa đã dạy bảo loài người chúng ta phải biết sống thái độ tạ ơn. Qua bao nhiêu bài Thánh Vịnh, thánh thi trong cựu ước chúng ta gặp không biết bao nhiêu lời tạ ơn đã được cất lên :   Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ/ Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương(Tv 136)Lạy Chúa xin dâng lời cảm tạ Ngài dã nghe lời miệng con xin (Tv 138)dâng Chúa bài ca cảm tạ Gảy khúc hạc cầm mừng Thiên Chúa chúng ta (Tv 147)
Ngay trong Bài Đọc 1 hôm nay, sứ ngôn I-sa-i-a đã thay lời Thiên Chúa nói với muôn thế hệ nhân loại rằng : Tôi xin nhắc lại ân nghĩa Chúa, dâng lời ca tụng Chúa, vì tất cả những gì Chúa thực hiện cho chúng tôi, vì lòng nhân hậu lớn lao của người đối với nhà Ít-ra-en, vì những gì Người đã thực hiện, bởi lòng Người đầy lòng thương xót và lắm nghĩa giàu ân”.  Nhưng để có một lời Tạ ơn cao cả nhất, trọn vẹn nhất phải đợi đến khi Thiên Chúa sai Con Một mình! Vâng, chỉ có người Con nhân loại và chính là Con Thiên Chúa, đã đến để dẫn dắt con người đi vào quỹ đạo của tình yêu tạ ơn, đi vào thái độ hiếu nghĩa tin yêu dành cho Thiên Chúa một cách trọn hảo qua chính cuộc đời Ngài.
1. Đức Kitô thiết lập nghĩa cử tạ ơn bằng cuộc đời vâng phục : 
            Nếu dân tộc của Giao ước cũ đã minh chứng niềm tin và lòng tri ân hiếu thảo đối với Thiên Chúa qua những của lễ chiên bò, hy sinh và tạ tội ; thì trong trật tự của Giao Uớc Mới, của lễ tuyệt hảo nhất, lời tạ ơn trọn vẹn nhất dành cho Thiên Chúa lại chính là Con Người của Đức Kitô, là cuộc đời và toàn bộ cuộc sống của Ngài, một cuộc đời trọn vẹn vâng phục thánh ý Chúa Cha :Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Kitô đã nói : “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa : lạy Thiên Chúa, nầy con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con.” (Dt 10,5)           
Thật vậy, Đức Kitô đã đến giữa trần gian và đã biến cả vũ trụ trở nên một “đền thờ vĩ đại” và đã qui tụ toàn nhân loại chung quanh Ngài để làm nên một cuộc “đại thờ phượng”, một cuộc tạ ơn và phụng thờ Thiên Chúa vượt qua mọi biên giới không gian, xuyên suốt mọi thời gian. Bởi vì đó là cuộc thờ phượng Thiên Chúa trong Thánh Thần và Chân lý :“Nầy chị, hãy tin tôi : đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi nầy hay tại Giê-ru-sa-lem…..Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc nầy đây – giờ những người thờ phượng đích thức sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế.” (Ga 4,21-24)
Qua những chỉ dẫn của Tin Mừng, chúng ta còn biết được rằng : thái độ tạ ơn, tâm tình tri ân cảm tạ lại chính là thái độ cốt yếu của tinh thần “Tám mối Phúc thật”, tinh thần “nghèo khó, khiêm hạ, yêu thương…”, mà Đức Ki-tô đã xác quyết trong chính lời tạ ơn của Ngài : “Lạy Cha, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho những kẻ khôn ngoan thông thái biết được những điều nầy mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn…”. (Mt 11,25). Và lời tja ơn của Đức Ki-tô đã kết thúc trọn hảo nhất khi Ngài thưa với Chúa Cha lời cuối cùng trên cây Thánh Giá : “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn Con ở trong tay Cha”. Sau Đức Ki-tô, mẫu người mà Lời Tạ Ơn đã thể hiện xuyên suốt qua cả cuộc đời đó chính là Đức Maria.
 2. Đức Trinh Nữ Maria và lời Tạ Ơn Magnificat : Quả thật cuộc đời của Đức Mẹ được phản ảnh qua bài Magnificat mà Tin Mừng hôm nay vừa nhắc đến là mô hình sống động, là mẫu gương sáng ngời để nhân loại bước đi trong “con đường tạ ơn” Thiên Chúa, trên nẽo đường đáp trả hồng ân.- Tạ ơn : trước hết là như Đức Maria dâng lên lời ngợi khen Thiên Chúa và hân hoan vì hồng ân cứu độ Ngài đã ân ban: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa….”- Tạ ơn : phải chăng như Đức Maria nhận ra “những việc lạ lùng Thiên Chúa đã thực hiện nơi tôi”.- Tạ ơn phải chăng như Đức Maria luôn biết nhận ra bàn tay Thiên Chúa đưa ra nâng đỡ thân phận yếu hèn, lòng quảng đại Chúa mở ra để ban cho dư đầy ơn phúc.- Tạ ơn phải chăng là luôn xác tín mãnh liệt và đầy lòng trông cậy vững vàng trước lời hứa và kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa : “Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta. Vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Áp-ra-ham và cho con cháu đến muôn đời”. Và Mẹ đã hoàn tất lời tạ ơn tuyệt diệu đó vào Chiều Thứ Sáu trên đồi Can-vê khi Mẹ thay cho nhân loại dâng hiến lễ Tạ Ơn đầu tiên cùng với Con yêu dấu trên bàn thờ Thánh Giá.
3. Sống chiều kích Tạ Ơn trong nhỏ nhặt đời thường : Qua lời kinh Tạ Ơn Magnificat của Đức Maria, và nhất là, qua cuộc đời đã trở nên Hy Tế TẠ Ơn của chính Đức Kitô, chúng ta cảm nhận được rằng : Thái độ Tạ Ơn, cuộc sống Tạ Ơn không chỉ là một hành vi mang tính “thời sự’, “cơ hội” đột xuất (như được khỏi cơn bệnh hiểm nghèo, thoát qua cơn hoạn nạn, tránh được hiểm nguy, làm ăn buôn bán trúng mánh, trúng số độc đắc…), nhưng “Tạ Ơn” phải là một thái độ, một nhịp sống, một cử hành thường xuyên, từng phút giây, mọi biến cố, trên mọi nẽo đường cuộc sống. Bởi vì, chính khi chúng ta cử hành cuộc sống trong thái độ tạ ơn, chúng ta sẽ thấy cuộc đời mình nhỏ lại, khiêm hạ hơn, khó nghèo hơn, trái tim kiêu căng hợm hĩnh sẽ được biến đổi để trở nên nhỏ bé hiền lành, và từ đó con mắt tâm hồn sẽ khám phá ra muôn vạn hồng ân của Cha trên trời vây bọc xung quanh. Ngày hôm nay, hơn lúc nào hết, cái nảo trạng ‘đương nhiên” của chủ nghĩa duy vật vô thần đang âm thầm hay mãnh liệt len lỏi vào mọi ngỏ ngách của cuộc sống. Người ta chỉ thấy mọi sự là “đương nhiên” để cóc cần phải tính sổ với Thiên Chúa, cóc cần ngước mắt lên để dành cho Chúa một lời cám ơn…Cho nên, chỉ có những con người như Đức Ki-tô, như Trinh Nữ Maria, bằng đôi mắt mang tâm hồn tạ ơn mới có khả năng khám phá ra muôn điều kỳ diệu Thiên Chúa đã thực hiện cho mình. Trong giờ phút thiêng liêng khi trời đất sắp sửa giao mùa, chúng ta có dịp ngồi lại với nhau trước mặt Chúa để nhờ ánh sáng của Lời Ngài mà nhìn lại cuộc sống, hồng ân Chúa đã ân ban trong suốt một năm. 
 
SUY NIỆM THÁNH LỄ GIAO THỪA
(Mt 5, 1-10)
Giây phút giao thừa sắp đến, năm cũ, bính thân đã dần lui vào dĩ vãng nhừng bức cho năm đinh dậu lại đến như báo hiệu của một ngày mới trong tiếng gáy ráng sáng. Mỗi người chúng ta đều mang trong mình những tâm tư và ước muốn. Ưu tư nhìn lại quá khứ, hy vọng hướng tới tương lai. Vậy giờ đây chúng ta có những tâm tình nào, ước muốn gì, chờ đời gì và nhất là nói gì với Chúa ? Chắc chắn một điều là ai cũng xin Chúa là Đấng vô thủy vô chung, là căn nguyên và cùng đích vạn vật, rộng ban cho một năm mới phúc lộc dồi dào, và lòng hăng hái làm việc lành để tôn vinh Danh Chúa.
Về phương diện con người, điều đầu tiên trong năm mới chúng ta cầu chúc cho nhau đó là chúc được bình an, hạnh phúc, vui vẻ, may mắn, mà người có đạo còn chúc nhau được đầy niềm vui và phúc lành của Thiên Chúa.
Trong giờ phút giao thừa, trước thềm năm mới, phụng vụ Lời Chúa vang lên lời chúc lành tư tế cổ xưa mà chúng ta nghe trong Bài đọc I :“Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ các con! Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến các con, và dủ lòng thương các con! Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn, và ban bình an cho các con!” (Dnl 6, 22- 27). Nguyện chính Thiên Chúa là nguồn mạch bình an, thánh hóa toàn diện con người anh…  (1 Tx 5, 16-26). Như thế, điều mà tất cả chúng ta mong ước là “được Thiên Chúa tươi nét mặt nhìn đến và chúc phúc”. Chúng ta cần phúc lành của Chúa ngay từ những giây phút đầu tiên của năm mới. Chúng ta ước mong được một năm mới bình an, thịnh vượng, tai qua nạn khỏi.
Thiên Chúa là Tình Yêu, Ngài yêu thương con người và hằng mong muốn con người được hạnh phúc, nên Ngài sẵn sàng chúc phúc cho chúng ta, chúng ta hãy tin tưởng vào Ngài. Đoạn Tin Mừng thánh Mathêu đọc trong Thánh lễ Giao thừa minh chứng rõ ràng rằng : «  Thiên Chúa muốn, chúng ta là những người hạnh phúc ». (x. Mt 5, 1-10)
Hạnh phúc thật theo Chúa Giêsu phán trong Tin Mừng (Mt 5:1-12) nghe xong nhiều người không khỏi ngạc nhiên và sửng sốt, bởi vì những người mà người đời coi là khờ dại, bất hạnh và đáng thương hại theo Chúa Giêsu lại là những người có phúc. Lý do là vì họ sống tinh thần nghèo khó, mặc dù họ giàu sang, có tiền của. Sống tinh thần nghèo khó là không cậy dựa vào tiền của, nhưng phó thác vào quyền năng của Chúa. Họ còn là những người hiền lành, những người đau khổ, những người đói khát sự công chính, những người hay thương xót người, những người có lòng trong sạch, những người ăn ở thuận hoà và những người bị bách hại vì lẽ công chính. Đó là những người được Thiên Chúa chúc phúc.
Quả thật, Thiên Chúa là nguồn mọi ơn phúc, và chỉ một mình Chúa Giêsu là Ðấng có phúc tuyệt hảo, Ngài cũng muốn chúng ta có được hạnh phúc đích thật nên đã vạch ra cho chúng ta con đường Tám Mối Phúc Thật để tất cả chúng ta đi theo mà trở thành phúc nhân. Con đường Chúa đã đi khi còn sống thân phận lữ thứ trần gian như chúng ta : Phúc cho những ai nghèo khó trong tinh thần, phúc cho những ai đau khổ, phúc cho những kẻ hiền lành, phúc cho những ai đói khát sự công chính, phúc cho những kẻ có lòng nhân từ, phúc cho những ai có lòng trong sạch, phúc cho những ai hoạt động cho hoà bình, phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính (x. Mt 5, 3-10). Chính Chúa là Ðấng nghèo khó thật trong tinh thần, là Ðấng đau khổ, là Ðấng dịu hiền, là Ðấng đói khát sự công chính, là Ðấng nhân từ, là Ðấng trong sạch trong tâm hồn, là Ðấng họat động cho hoà bình, là Ðấng bị bách hại vì lẽ công chính. Chúa mời gọi chúng ta tiếp bước theo sau để tiến về cõi phúc thật. Với Chúa, điều không thể được trở thành có thể, ngay cả việc con lạc đà có thể chui qua lỗ kim (x. Mt 10,25), với sự trợ giúp của Chúa và chỉ với sự trợ giúp của Chúa, chúng ta mới được ơn trở nên những người có phúc.
Trước thềm năm mới, chúng ta hãy khẩn cầu các thánh là những người đã được xem là phúc nhân, đặc biệt xin Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ chúng ta, Đấng được sứ thần chào là ‘Đấng đầy ơn phúc’, được bà Isave chị họ gọi là người ‘có phúc’ làm cho chúng ta trở thành những phúc nhân trong năm mới, nhất là trước tòa Chúa Giêsu Kitô, Con Mẹ đến muôn thủa muôn đời ! Amen.
 
 
 
LỄ MỒNG MỘT TẾT- TÂN NIÊN
Mt 6,25-34
Với người Việt Nam Công giáo, ngày Tết mang một ý nghĩa nhân văn và giá trị thiêng liêng. Giáo hội tại Việt Nam hiện diện giữa lòng dân tộc với văn hoá truyền thống của dân tộc, nên đã  hội nhập văn hóa trong hành trình Phúc-Âm-hoá. Cụ thể như trong ba ngày Tết, quan niệm “Thiên-Địa-Nhân hòa” được hội nhập vào ba mối tương quan căn bản đem lại hạnh phúc trong cuộc sống con người: con người với Thiên Chúa – con người với nhau – con người với vũ trụ.
Ngày Mồng Một Tết là ngày hướng lòng lên Thiên Chúa, “Đấng vô thủy vô chung, là căn nguyên và cùng đích của vạn vật”, để tạ ơn Chúa đã ban cho một năm mới, và cầu xin Chúa ban cho mọi người “được bình an mạnh khỏe, càng thêm tuổi càng thêm nhân đức, hăng hái làm việc lành để tôn vinh Danh thánh” (Lời nguyện Nhập lễ Thánh Lễ Tân Niên).
Mối tương qua “Thiên-Địa-Nhân” được biểu lộ trong những ngày Tết khi người Việt Nam gói bánh chưng. Sự tích bánh dày bánh chưng, từ thời vua Hùng Vương, nhắc dân Việt nhớ rằng: bánh chưng hình vuông chỉ trời, bánh dày hình tròn chỉ đất; con người “đầu đội trời, chân đạp đất”. Quan niệm “Thiên-Địa-Nhân” thật gần gũi với mặc khải của Thiên Chúa trong Kinh Thánh về mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa, với nhau và với vũ trụ. Khi tập trung vào ba mối tương quan căn bản đem lại hạnh phúc cho con người, Giáo hội mời gọi con cái mình sống ý nghĩa của thời gian với ba chiều kích: nhìn về quá khứ với tâm tình tạ ơn Thiên Chúa và biết ơn các bậc sinh thành; hướng đến tương lai với tâm tình cậy trông nơi Thiên Chúa là Đấng làm chủ lịch sử;nhìn vào hiện tại với quyết tâm dấn thân xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.
Hôm nay, ngày mồng một Tết, chúng ta dừng lại mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa, với tâm tình tạ ơn Thiên Chúa và cầu bình an cho Năm Mới. Tâm tình tạ ơn Thiên Chúa: Ngày Mồng Một Tết được coi là ngày quan trọng nhất. Vào sáng sớm ngày này, người Việt cổ thường bày cỗ cúng tân niên, ăn tiệc và chúc tụng nhau trong nội bộ gia đình, đặc biệt là “Mồng Một Tết Cha”. Giáo xứ cũng là một gia đình, nên chúng ta còn tụ họp nhau tại nhà thờ để dâng lễ tạ ơn Thiên Chúa là Cha. Trong bài đọc 2, trích thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thê-sa-lô-ni-ca, thánh Phaolô viết: “Anh em hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Ki-tô Giê-su” (1 Th 16-17). Tạ ơn Thiên Chúa vì những ơn lành chúng ta đã nhận được trong năm cũ, nhưng cũng tạ ơn Thiên Chúa ngay cả khi chúng ta chưa được may mắn trong năm qua. Đó là thái độ sống đức tin như lời Chúa dạy trong thư Phi-líp-phê mà chúng ta nghe đọc vào ngày Mồng Một Tết: “Anh em đừng lo lắng gì cả, nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện; bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su.” (Pl 4,6-7). Điều quan trọng là tín thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa, Đấng Sáng tạo và Cứu độ, đồng thời lưu ý làm theo lời căn dặn của Thánh Phaolô trong đoạn thư tiếp theo: “Những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý. Những gì anh em đã học hỏi, đã lãnh nhận, đã nghe, đã thấy ở nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành, và Thiên Chúa là nguồn bình.” (Pl 4,8-9).
Tâm tình cầu bình an cho Năm Mới: Chúa Giêsu đã nói: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.” (Ga 14, 27). Con người thời nay gần như có mọi sự, nhưng tiếc thay nhiều người lại không có một điều rất quan trọng là bình an nơi tâm hồn. Có người bị mất ngủ, căng thẳng, suy sụp, chán đời. Có người rơi vào tình trạng nghiện ngập, bạo hành hay trụy lạc. Gia đình cũng chẳng bình an khi gặp cảnh xung đột, ly dị, ngoại tình. Con người nôn nóng đi tìm bình an. Khi thấy các môn đệ xao xuyến và sợ hãi trước việc Thầy sắp ra đi, Đức Giêsu đã nói một câu mà chúng ta không ngừng lặp lại trong mỗi Thánh lễ: “Thầy để lại bình an cho anh em. Thầy ban cho anh em bình an của Thầy”. Bình an là quà tặng cao quý của Thầy Giêsu khi sắp trở về với Cha qua cái chết thập giá (x. Ga 14,28). Bình an cũng là quà tặng của Chúa khi hiện ra cho các môn đệ đang đóng cửa vì sợ hãi :“Bình an cho anh em” (x. Ga 20, 19. 21.26).
Như thế các môn đệ vẫn phải luôn bình an trước và sau cái chết của Thầy. Đời sống Kitô hữu được bình an không phải vì không gặp sóng gió, nhưng là bình an giữa những sóng gió. “Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16, 33). Bình an của chúng ta dựa trên chiến thắng của Đức Giêsu. “Trong mọi thử thách, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu chúng ta” (Rm 8, 37). Đức Giêsu nhìn nhận thế gian có khả năng ban cho chúng ta bình an. Nhưng Ngài phân biệt thứ bình an ấy với thứ bình an của Ngài. Chúng ta tự hỏi mình có tìm bình an dựa trên sự mong manh của tiền bạc, sắc đẹp, chức quyền, tài năng, tri thức không ? Sự bình an mà chúng ta nhận được và trao cho nhau trong Thánh lễ có thật sự gây âm vang trong cuộc sống của ta không ?
Trong dịp Tết, người ta cầu chúc cho nhau những điều tốt đẹp nhất, nhưng điều mà mọi người đều mong ước là được HẠNH PHÚC. Bài Tin Mừng theo thánh Matthêu về “Tám Mối Phúc Thật” nhắc nhớ người tín hữu về quan niệm hạnh phúc theo bài giảng trên núi của Chúa Giêsu. Tám mối phúc thật thoạt nghe thì nghịch lý, khó chấp nhận theo não trạng người đời, nhưng nói cho cùng, muốn có được sự bình an đích thực trong cuộc sống thì không có phương cách nào thay thế con đường Tám Mối Phúc Thật, mà mối phúc căn bản là: “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3).
Sống tinh thần nghèo khó ở đây là tinh thần nghèo khó, tức là không cậy dựa vào tiền bạc của cải như mục đích tối hậu, mà luôn cậy dựa vào Chúa và để cho Chúa dẫn ta đi theo con đường Chúa muốn. Con đường Chúa muốn là sống hiền lành và khiêm nhượng, khao khát sự công chính, biết thương xót, ăn ở thuận hòa, có lòng trong sạch. Vậy, đối với người Kitô hữu, hạnh phúc và bình an đích thực có được là nhờ cậy dựa tuyệt đối vào Thiên Chúa là Hạnh phúc vĩnh hằng, như lời Thánh Vịnh 147, phù hợp với “Tết Con Ngựa”: “Vó ngựa phi Chúa không ưa chuộng, chẳng thích gì chân kẻ chạy nhanh. Nhưng Ngài yêu thích tâm hồn chân thật” (câu 10-11), nghĩa là Chúa yêu thích những ai biết khiêm nhường trông cậy nơi Ngài. Amen.
 
 
MỒNG HAI: KÍNH NHỚ TỔ TIÊN, ÔNG BÀ CHA MẸ
Mt 15,1-6
Hòa hợp với mọi người(Nhân-Nhân giao hòa)
 
          Ngày Mồng Hai Tết được Lịch Công Giáo Việt Nam gọi là ngày ‘Kính Nhớ Tổ Tiên, Ông Bà Cha Mẹ’. Nhiều người muốn biến ngày này thành ngày cầu nguyện cho vong hồn tổ tiên ông bà cha mẹ, có lẽ xuất phát từ việc hiểu lầm chữ ‘kính nhớ’. Theo quan niệm Nhân Hòa trong văn hóa Việt, ‘nhân’ đây gồm cả người sống lẫn kẻ chết, người thân cận cũng như kẻ xa lạ, và kính nhớ hay tôn kính được hiểu như kiến tạo một tương quan hòa hợp với hết mọi người, bắt đầu từ cận nhân, điển hình là tổ tiên, ông bà, cha mẹ, còn sống hay đã khuất núi. Đây là nền tảng của ‘đạo hiếu’, không chỉ được hiểu hạn hẹp như thảo hiếu đối với ông bà cha mẹ (nhất là khi đã qua đời) mà thôi, nhưng còn là hiếu với đồng bào, với dân với nước, và xa hơn nữa là hiếu hay thuận thảo với toàn thể bàn dân thiên hạ (nhân hòa).
 
          Văn hóa Do Thái còn khá xa vời với khái niệm ‘nhân hiếu’ này. Trong cuộc tranh luận về truyền thống với nhóm Pha-ri-sêu và các kinh sư, Đức Giê-su chỉ mới đề cập tới và chỉnh sửa một phần nhỏ cái mối tương quan xã hội đa diện vốn có nơi các thính giả Do Thái. Giới luật Cựu Ước chỉ qui định “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ’, hiểu là khi các ngài còn sống chứ không đề cập chi tới khi các ngài đã khuất bóng. Ấy thế mà các kinh sự luật sĩ vẫn viện những lý lẽ này nọ để lướt qua: “Ai nói với cha mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy không phải thờ cha kính mẹ nữa”. Rõ ràng cái tối thiểu của chữ hiếu chữ nhân họ còn chưa có nữa là. Chả trách sự hiểu biết ‘nhân hiếu’ của họ thật quá hạn hẹp. Nếu họ có mở rộng nó ra hơn một chút nữa thì cùng lắm cũng chỉ tới bạn bè thân quen, “… yêu thương những kẻ yêu thương mình” (Mt 5,46).
 
          Trong cái văn hóa nhân hòa, hồn Việt có khả năng hiểu sâu hơn các điều mà Đức Giê-su trong chương 05 Phúc Âm Mát-thêu gọi là ‘kiện toàn Luật Mô-sê’, như đừng giận ghét, chớ ngoại tình, đừng thề thốt, chớ trả thù và nhất là yêu thương kẻ thù. Thiết tưởng bác ái của Tin Mừng, nếu phải diễn tả trong văn hóa thuần Việt, sẽ là đưa nhân hòa lên tới tột đỉnh và mở rộng nó ra, thoát khỏi mọi biên cương giới hạn của lòng dạ con người. Tin Mừng đồng thời cũng cống hiến cho Hồn Việt phương thế để thực hiện được cái lý tưởng nhân hòa đầy thử thách và cam go, thay vì chỉ mãi mãi là một mơ ước thanh tao cao đẹp trong những ngày đầu năm mới. Cái ‘hòa’ mà Tin Mừng cống hiến không phải là vắng bóng các đố kị căng thẳng, tranh chấp chia rẽ, nhưng đúng là giao hòa dựa trên ơn cứu độ của Thiên Chúa. Đức Giê-su Ki-tô thập giá chính là ‘Nhân Hòa’ đầu tiên của toàn lịch sử nhân loại khi Người không những giao hòa Trời với Đất mà còn giữa người với người. “Lạy Cha, xin tha cho họ!” (Lc 35,34). Thánh Phao-lô đã triển khai tư tưởng hòa giải này trong chương 05 thư thứ hai gửi giáo đoàn Cô-rin-tô, trong khi Thánh Gio-an đã dùng nó làm nền cho lời kêu gọi xây dựng nhân hòa giữa các tín hữu và với hết mọi người, “Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối…” (1 Ga 4,20…)
          
Như vậy, nếu trong ngày mồng hai tết người Công Giáo Việt Nam có cử hành bất cứ nghi lễ hay tập tục nào để kính nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ mình (còn sống hay đã qua đời) thì cái tâm của họ phải rộng mở hướng về mọi người. Chính sự rộng mở này sẽ giúp họ trong năm mới càng chấp nhận và triển khai Tin Mừng bác ái yêu thương của Đức Ki-tô cách sâu sắc và triệt để hơn. Họ thâm tín rằng: nhờ niềm tin vào ơn cứu độ giao hòa của Đức Ki-tô, chính họ sẽ trở thành tác nhân có khả năng biến niềm mơ ước mãnh liệt nhất của dân Việt, và của toàn nhân loại, thành hiện thực: “Tứ hải giai huynh đệ”.
          
          Lạy Đức Ki-tô - đấng giao hòa, trên thập giá Chúa không chỉ giao hòa nhân loại với Thiên Chúa (Thiên – Nhân) và còn giao hòa nhân loại với nhau (Nhân – Nhân). Trong ngày đầu xuân này, xin giúp con khởi động trở lại tiến trình giao hòa với mọi người, bắt đầu từ những người thân cận nhất là Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ của con, còn sống hoặc đã qua đời. Xin cho việc kính nhớ các ngài càng thôi thúc con sống Tin Mừng cứu độ của Chúa cách trọn vẹn và quảng đại hơn trong tương quan hòa hợp với hết mọi người trong suốt năm Giáp Ngọ này. A-men   
 
 
 
  
MỒNG BA: THÁNH HÓA CÔNG ĂN VIỆC LÀM
Mt 25,14-30
Hòa hợp với thiên nhiên(Nhân-địa giao hòa)
          
          Sách Sáng Thế mô tả thời khai nguyên hoàng kim như một không gian - thời gian, khi mà con người và thiên nhiên hòa hợp với nhau cách hoàn hảo: “Đức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn E-đen, để cày cấy và vun trồng đất đai hoa màu…” (St 2,15). Khát vọng này vẫn là ước mơ của con người trải qua các thời đại, vì cái thực tế phũ phàng là sự hòa hợp nhân-địa này đã bị phá hủy, “…đất đai bị nguyền rủa vì ngươi, ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra” (St 3,17). Trong những ngày đầu năm mới Hồn Việt càng cảm thấy khát vọng tái lập ‘địa lợi’ trỗi dậy càng mạnh liệt hơn bao giờ hết.
 
          Đối với người Việt, được gần gũi với thiên nhiên là điều họ hằng khao khát: họ đi hái lộc xuân, trưng bày cây trái bông kiểng trong nhà, và thắp nhang khấn vái để được mưa thuận gió hòa, nhất là vào thời kì còn sống trong một xã hội đậm nét nông nghiệp. Người Công Giáo Việt tạm gọi ngày mồng ba tết là ‘Thánh hóa công việc làm ăn’ hay dâng các công ăn việc làm của mình cho Thiên Chúa. Đoạn Tin Mừng Mát-thêu được trích dẫn ở đây thì cho ý tưởng là làm sinh lời các yến bạc mỗi người nhận được thông qua chu toàn các chức phận được trao (25,14-30). Dù thế nào đi nữa thì ước vọng phổ quát vẫn là, làm sao cho Nhân và Địa được hòa hợp hơn. ‘Địa’ ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, là tất cả những gì liên quan tới việc sinh sống của con người.
 
          Trong môi trường khắc khổ của dân Do Thái thời cổ đại, tương quan nhân-địa hình như đã không được lưu tâm tới mấy. Một vài nét đơn sơ được phác họa trong Cựu Ước như ‘đất hứa’ phải là nơi ‘chảy sữa và mật’, và có ‘đất đai mầu mỡ và mưa thuận gió hòa’ là mơ ước mọi người đều muốn, và chỉ nhận được nhờ phép lành Đức Chúa ban cho thông qua lời chúc phúc của các bậc tổ phụ (xem St 27, 27-29). Tân Ước hình như lại càng ít quan tâm tới diện này hơn vì ưu tư chính được dành cho chiều kích nội tâm.
 
          Đối với người Á Đông nói chung và người Việt cách riêng, vấn đề sống hòa hợp với thiên nhiên luôn là một mảng đề tài khá đặc sắc. Phong thủy là mối quan tâm phổ biến nơi rất nhiều người. Ngày nay con người thời đại nói chung trước vấn đề ô nhiễm trầm trọng đã bắt đầu qua tâm hơn tới việc sống hòa hợp với thiên nhiên dưới khẩu hiệu ‘bảo vệ môi trường sinh thái’. Gần đây hơn, trong giới Công Giáo và Tin Lành đã thấy xuất hiện thao thức đi tìm một linh đạo mới cho phù hợp với khuynh hướng chung này. Trong hội nghị quốc tế tháng 11 năm 2012 được tổ chức tại Va-ti-can để bàn về đề tài Apostolatus Maris người ta đã đề cập tới một nét linh đạo mới dành cho mục vụ giữa các thủy thủ hay ngư dân viễn dương. Có nên chăng hội nhập tư tưởng của Lão Giáo qua dạng Thần Nam Hải coi biển cả như người mẹ hiền (thần nữ) dưỡng nuôi con người bằng các sản phẩm đại dương phong phú mà ta phải đón nhận với lòng tri ân thành kính …, thay vì chỉ nhìn đại dương cách phổ thông như chốn hiểm nguy đầy sóng gió, thủy quái… cầu mong sao sớm được thoát khỏi để về tới bến an toàn; hay thực dụng hơn, công tác bảo vệ sinh thái đại dương chỉ nhằm bảo đảm khai thác hải sản lâu dài và hữu hiệu hơn? 
 
          Trong triền tư tưởng trên, việc soạn ra một Thánh Lễ với bài Tin Mừng thích hợp cho ngày mồng ba tết luôn là một thách đố, thay vì chỉ đơn thuần cử hành Thánh Lễ ngoại lịch sẵn có về thánh hóa công việc làm ăn (hay như Lịch Công Giáo đề nghị sử dụng đoạn Tin Mừng Mác-cô 7,1-13 có cùng một nội dung tương tự như Mt 6,25-34 dùng trong ngày mồng một tết). Dẫu thế nào đi nữa thì khái niệm nhân-địa giao hòa này vẫn mang một nội dung rất phong phú. Nó có thể giúp cho người Công Giáo Việt Nam chúng ta có cái nhìn toàn diện và lạc quan hơn về Tin Mừng cứu rỗi, như Phao-lô khi đề cập tới ‘trời mới đất mới’ hay “muôn loài thụ tạo lâm vào cảnh hư ảo… những ngong ngóng đợi chờ… và cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở…chờ đợi ngày Thiên Chúa mạc khải vinh quang” (Rm 8, 18-23). Thánh Lễ mồng ba Tết Nguyên Đán phải phác ra một linh đạo sống cho cả năm chứ không chỉ đơn thuần xin Chúa phúc phúc cho công việc làm ăn trong năm mới được thành đạt.
 
          Lạy Cha là Chúa tể trời đất, khi giao hòa với con người, Cha cũng muốn cho con người giao hòa với nhau và hòa hơp hơn với thiên nhiên. Trong việc đón nhận hồng ân cứu độ của Cha thông qua thập giá Đức Ki-tô, con được bảo đảm một ‘Thiên thời, Địa lợi và Nhân hòa’ mới, không chỉ trong năm mới này, mà còn suốt cả đời Ki-tô hữu, bất chấp các yếu hèn và phản nghịch của con đối với Cha, những bất trắc của thiên nhiên hay lòng dạ đảo điên của con người. Xin cho con sống những ngày đầu năm này trong niềm tin tuyệt đối vào tình yêu cứu độ vô bờ bến của Cha. Amen
 
 

Thế Giới Nhìn Từ Vatican

10/08/2017: Maduro trở mặt 179 độ với Tòa Thánh


Thiếu Nhi Kim Phát Rước Lễ Lần Đầu 2017