21:45 EDT Thứ tư, 16/08/2017

KINH TẠ ƠN KIM KHÁNH THÀNH LẬP GIÁO PHẬN BANMÊTHUỘT


Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 25


Hôm nayHôm nay : 5937

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 101772

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7924955

Trang nhất » Bài giảng lễ

Bài giảng lễ CHÚA NHẬT V MÙA CHAY - Năm A

CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY A
Ed 37,12-14; Rm 8,8-11; Ga 11,1-45
 
Từ đầu Mùa Chay, chúng ta đã được mời gọi sống tinh thần khổ chế, hãm mình hy sinh. Có người trong chúng ta hỏi: "Mục đích của những hy sinh khổ chế của Mùa Chay là gì?" Phụng vụ hôm nay cho chúng ta cầu trả lời: Hy sinh hãm minh của Mùa Chay giúp chúng ta "ra khỏi mồ", hồi sinh và sống một cuộc sống mới.
 
 Chúa Giêsu là nguồn sống đích thực. Người đến trần gian để ban cho con người sự sống. Người mời gọi con chúng ta bước ra khỏi cõi chết tối tăm để sống trong ánh sáng huy hoàng. Chính Người đã sống lại vinh quang từ cõi chết, như một bảo đảm cho những ai tin vào Người cũng được phục sinh với Người. Phép lạ làm cho ông Lagiarô đã chết được sống lại nhằm chứng minh những gì Chúa Giêsu đã khẳng định trước đó.
 
"Ngôi Lời là sự sống", đó là một trong những chủ đề quan trọng của Tin Mừng Thánh Gioan. Điều này đã được khẳng định trong lời mở đầu của Tin Mừng (x. Ga 1,4). Sau này, tác giả còn tiếp tục triển khai ý niệm "Lời sự sống" (x. 1 Ga 1,2) để mời gọi các tín hữu, một khi đã được đón nhận Sự Sống là Chính Chúa Giêsu, hãy sống xứng đáng là con cái Thiên Chúa.
Trở lại với trình thuật Chúa làm cho ông Lagiarô đã chết được sống lại. Đây là "dấu lạ" thứ bảy trong Tin Mừng thánh Gioan, cũng là dấu lạ cuối cùng trong tác phẩm (dấu lạ thứ tám ở chương 21 về mẻ lưới kỳ diệu được coi như phần bổ sung). Dấu lạ này cũng khép lại phần I của Tin Mừng, trước khi bước sang phần thứ II (từ chương 13) kể lại cuộc thương khó của Chúa. Câu chuyện không chỉ liên quan đến cá nhân ông Lagiarô, nhưng hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc.
 
Một chi tiết quan trọng không nên bỏ qua: các môn đệ cùng với Chúa Giêsu tiến về Bêthania, nơi có Lagiarô vừa qua đời. Qua câu nói của Tôma: "Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thày" (câu 16), chúng ta thấy các ông linh cảm về những gì sẽ xảy ra và sự cương quyết chấp nhận lên đường cùng Thày. Bầu không khí và câu nói của Tôma diễn tả các môn đệ đang cùng đi với Thày mình đến gần cái chết, vì ở đó những người Do Thái đang tìm ném đá Thày.
 
"Hành trình đến sự chết" cũng là hành trình của Mùa Chay. Nhưng chúng ta tin rằng, hành trình ấy không kết thúc đau đớn và u ám trong nấm mộ. Những thực hành của Mùa Chay không dẫn chúng ta đến sự chết như đích điểm cuối cùng, nhưng đến sự sống. Bởi Thiên Chúa quyền năng sẽ mở những huyệt mộ và đưa chúng ta ra khỏi đó (Bài đọc I). Mỗi chúng ta đang sống trong những huyệt mộ của ghen ghét, ích kỷ, hẹp hòi. Chúa Giêsu đến để mở tung những huyệt mộ đó. Người dẫn chúng ta bước đi dưới ánh sáng thiêng liêng là chính bản thân Người. Nhờ ánh sáng này, chúng ta sẽ không còn vấp ngã (câu 10). Điều quan trọng là chúng ta có can đảm để lên đường với Người không. Trong một bối cảnh đầy lo âu và nguy hiểm đang rình rập, Tôma và các môn đệ đã cất bước theo Thày mình. Các ông đã được chứng kiến phép lạ Chúa làm, như một phần thưởng cho những ai can đảm trung thành.
 
Khi "gọi" người chết ra khỏi mồ, Đức Giêsu chứng tỏ quyền năng Thiên Chúa của mình. "Gọi" là chức năng và vai trò của "Lời". Cũng như từ thuở đầu của công trình sáng tạo, Thiên Chúa đã dùng lời của Ngài gọi vạn vật từ hư vô đến hiện hữu. Nay, Ngài dùng Lời của Ngài mà gọi con người từ cõi chết đến cõi sống. Lời gọi này còn như một lệnh truyền, một lời sai bảo của người bậc trên đối với người cấp dưới. Chúa đã gọi con người từ bóng tối tới ánh sáng; từ cõi chết đến cõi sống. Hôm nay, Ngài đang dùng Lời của Ngài mà gọi chúng ta. Chúng ta có lắng nghe tiếng gọi của Con Thiên Chúa để từ cõi chết bước đến cõi sống không?
 
Chúa Giêsu đã đặt câu hỏi với Mátta là chị của người chết: "Chị có tin không?". Tin vào Chúa trong lúc gian nan đau khổ là một hành vi can đảm, giống như chấp nhận lên đường với Người vào lúc nhiều bóng tối đe dọa phía trước. Lời tuyên xưng của Mát-ta: "Thưa Thày, con vẫn tin Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa" là mẫu mực cho chúng ta.  Lời tuyên xưng ấy giúp ta bừng sáng niềm hy vọng trong giây phút ảm đạm của cuộc đời. Lời tuyên xưng ấy kèm theo niềm xác tín nơi Chúa Giêsu và nơi Chúa Cha: "Con biết rằng bất cứ điều gì Thày xin cùng Thiên Chúa, Ngài cũng sẽ ban cho Thày". Một người đã chết, nằm trong mộ bốn ngày, xét theo cái nhìn trần gian là không thể hồi sinh. Vậy mà đối với Thiên Chúa, lại là một điều có thể được. Bởi lẽ Ngài là Đấng quyền năng và giàu lòng thương xót.
 
Mátta và Maria tin chắc chắn vào sự sống lại ngày sau hết. Đó cũng là đức tin mà chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin kính. Tuy vậy, Chúa Giêsu muốn khẳng định, sự sống lại không chỉ ở ngày sau hết, tức là ngày tận thế, mà đã khởi đầu trong cuộc lữ hành trần gian hiện tại. Chúng ta phải luôn hồi sinh, phải luôn "sống lại", tức là đổi mới cuộc đời, giã từ tội lỗi và bước ra khỏi nấm mồ. Những nấm mồ hôm nay, không chỉ là sự ghen ghét ích kỷ, mà còn là những khó khăn bế tắc của kiếp người. Biết bao người đang đắm chìm trong thất vọng. Họ như đang bị chôn vùi trong huyệt mộ, khi đứng trước đau khổ, bệnh tật, thất nghiệp, mâu thuẫn, nghèo đói… Họ rất đang cần được Chúa giải thoát khỏi những nấm mồ ấy. Hôm nay, Chúa Giêsu cũng đang dùng lời ấy mà kêu gọi chúng ta. 
 
 
CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY A
Ed 37,12-14; Rm 8,8-11; Ga 11,1-45
Chúa Giêsu là Ngôi Lời nhập thể làm người. Ngài đồng hành cùng mọi người trong đời sống trần thế, là Thiên Chúa thật và là người thật. Tin Mừng hôn nay kể, Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là con người.  Nhiều lần Chúa Giêsu nói về sự sống đời đời. “Thầy là sự sống lại và sự sống”, lời tuyên bố của Chúa Giêsu trước khi làm cho Ladarô sống lại là một trong những lời kỳ diệu nhất đối với người thời đại cũng như bao người ngoài Kitô giáo và những người vô thần ngày nay. Nhưng đối với chúng ta, lời tuyên bố đó là chính nền tảng, và là hy vọng của cuộc đời.
Ladarô đau nặng, Matta và Maria sai người đến báo tin cho Chúa Giêsu hay : “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng”. Chúa bảo: “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang Thiên Chúa”.Cho dù Ladarô đã chết, nhưng Chúa Giêsu vẫn nói với các môn đệ: “Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó để anh em tin”. Chúa Giêsu và các môn đệ lên đường tới Bêtania. Matta đón Ngài và biểu lộ niềm tin tưởng tuyệt đối: “Lạy Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết. Nhưng bây giờ con biết: bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy”. Ladarô đã chết nhưng Matta tin chắc chắn Chúa có thể làm cho em trai mình được sống bởi vì Ngài là Đấng quyền năng. Chúa Giêsu mạc khải: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết cũng sẽ sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết”. Với lời xác quyết vừa trang trọng vừa lạ lùng này, Chúa Giêsu đòi hỏi Matta phải xác tín: “Con có tin điều đó không?”. Matta tuyên xưng: “Thưa Thầy có, con vẫn tin Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa, Đấng phải đến trong thế gian”. Matta biết Chúa Giêsu là Đấng quyền năng, Ngài có thể truyền lệnh cho sự chết cũng như Ngài đã truyền lệnh cho sóng gió phải im lặng. Chúa Giêsu đã thực hiện phép lạ. Ngài truyền cho Ladarô sống lại bước ra khỏi mồ, sau khi đã cầu nguyện và cảm tạ Chúa Cha. Trước sự thật hiển nhiên này, một số người đã tin theo Chúa. Một số khác, nhất là các Biệt phái và các Thượng tế lại chống đối cách quyết liệt hơn nữa. Họ hội họp với nhau và quyết định kết án tử hình cho Chúa.
Bài Tin Mừng hôm nay chứng minh cách tổng hợp, Chúa Giêsu vừa là Thiên Chúa quyền năng vừa là con người yêu thương. Con người nhân ái đến thăm gia đình có người qua đời, trái tim rung động thổn thức. Chúa Giêsu khóc nức nở trước ngôi mộ của Ladarô khiến dư luận bàn tán: “Coi kìa. Ông ấy thương Ladarô biết dường nào!”. Thánh Gioan cũng thấy như vậy: “Đức Giêsu quý mến cô Mácta cùng hai người em là cô Maria và anh Ladarô”. Ladarô đi vào đường hầm của sự chết. Chúa đã gọi anh quay trở lại: “Ladarô, hãy ra đây!… Người chết đi ra, chân tay còn quấn những mãnh vải…”. Ladarô xuất hiện với cùng một thân xác như khi đi vào mồ. Anh nằm trong mộ bốn ngày rồi, thối rữa ra rồi.Thế mà Chúa bảo hãy đi ra. Anh đi ra thật. Giải băng còn quấn cứng ngắc…Sự hoảng hốt bao trùm. Niềm vui bùng nổ. Hàng ngàn người lại nườm nượp tuôn đến. Đến để xem người chết sống lại. Ladarô sống lại là hiện thân của một biến cố lịch sử ngàn năm một thuở.
Trong Cựu Ước, ngôn sứ Êlia cho con trai của bà góa ở Sarépta sống lại (x.1V 17,17-24), ngôn sứ Êlisa cho đứa con trai của bà Sunêm sống lại (x.2V 4,32-37).
Trong Tân Ước, Phêrô đã làm cho bà Tabitha đã chết sống lại (x.Cv 9,39-42). Chúa Giêsu đã làm cho người chết sống lại: con trai bà góa thành Naim (x. Lc 7,11-15), con gái một ông trưởng hội đường (x. Mt 9,18-26; và cho Ladarô.  
Chúa Giêsu đối đầu với sự chết ngay trong lãnh địa thần chết. Ngài đã chịu chết nên Thiên Chúa đã ban triều thiên vinh quang cho Ngài (Dt 2,9); Ngài trở nên “trưởng tử giữa các vong nhân” (Cl 1,18). “Nhờ sự chết của mình, Chúa Giêsu đã giao hòa chúng ta với Thiên Chúa” (Rm 5,10) “để chúng ta được lãnh gia nghiệp đã hứa cho” (Dt 9,15). Đối với người Kitô hữu, chính cái chết thân xác mang một ý nghĩa mới. Chết không còn là một hình phạt do tội lỗi gây ra. mà “chết cho Chúa”, sống cho Chúa (Rm 14,7; Pl 1,20). Nếu họ hy sinh đổ máu để làm chứng cho Chúa, cái chết của họ là một hy lễ tiến dâng lên Thiên Chúa (1Tim 4,6) và đáng được triều thiên sự sống (Kh 2,10; 12,11).
Chúa Giêsu là sự sống lại và là sự sống.Tin vào Ngài là thông hiệp vào sự sống lại sau khi chết, khiến cái chết không còn nghĩa lý gì nữa. Đức tin, nền tảng tư duy dẫn vào cuộc đổi mới đời mình và đổi mới cả môi trường trần thế đang là đất sống của con người tại thế. Theo Thánh Phaolô đối với người Kitô hữu, chết là một phúc lợi vì được chính Chúa Kitô là sự sống (Pl 1,21). Thiên Chúa là Đấng có quyền trên sự sống của con người. Chúa Giêsu hứa ban sự sống lại vào ngày sau hết cho những ai tin vào Ngài. Chúa Giêsu đã nối kết niềm tin vào sự sống lại của con người với niềm tin vào chính sự sống lại của Ngài: “Ta là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,25). Chúa Giêsu đã đưa ra một chiều kích hiện sinh mới, mở ra cho ta con đường tiến tới chân lý sự sống bằng sự chết mà Ngài đã thực hiện. Chính sự tử nạn và phục sinh của Ngài làm cho cái chết thành Tin Mừng của sự sống.
Chúa Giêsu không chỉ yêu thương chúng ta bằng tình yêu thần linh của một vị Thiên Chúa, mà còn yêu bằng chính tình cảm bao la, quảng đại và triệt để: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1b). “Đến cùng” ở đây là tới mức tận cùng của tình yêu con người, không ai có thể yêu hơn được nữa: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).
Sự chết và sống lại của Chúa Giêsu Kitô không những đã chuộc lại những gì con người đã mất do tội lỗi nhưng còn là một cuộc sáng tạo. Nhờ sự chết và sống lại mà Ngài đã nối nhịp cầu hiệp thông liên kết giữa Thiên Chúa và con người, thiết lập một tương quan mới Cha con. Nhân loại từ đây không những được ơn tha thứ, được gột rửa sạch tội lỗi để khỏi án chết đời đời, nhưng còn được trở nên con cái Thiên Chúa, được gọi Người là Abba, Cha ơi (Rm 8,15).
Sự sống mà Thiên Chúa ban cho con người khi sáng tạo là sự sống trong tương quan giữa Hoá Công và thọ tạo. Sự sống mà Chúa Kitô đem lại cho con người là sự sống trong tương quan giữa Thiên Chúa là Cha và loài người được nâng lên địa vị làm con. Sự sống “tự nhiên” là một thực tại khách quan. Sự sống mới hay sự sống  “siêu nhiên” là một trạng thái ân tình mà con người phải đi vào để được thực sự thông hiệp với Thiên Chúa.
 
 

Thế Giới Nhìn Từ Vatican

10/08/2017: Maduro trở mặt 179 độ với Tòa Thánh


Thiếu Nhi Kim Phát Rước Lễ Lần Đầu 2017